Cần thiết kế “cách đo riêng” về tỷ trọng khoa học công nghệ đối với các trường đào tạo ngành đặc thù

14/10/2026 06:20
Thúy Hiền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Với các trường đào tạo ngành đặc thù, ngoài nguồn thu, cần xem xét chất lượng sản phẩm, mức độ ứng dụng, tác động xã hội, khả năng đóng góp cho chính sách, giáo dục, văn hóa và sự phát triển của ngành.

Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT (gọi tắt là Thông tư 83) quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, thay thế Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT cho phép các cơ sở đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật và nhóm ngành thể dục, thể thao không bắt buộc áp dụng tiêu chí 6.2 về khoa học công nghệ. Tuy nhiên, tiêu chí về tỷ trọng thu khoa học - công nghệ tính trung bình trong 03 năm gần nhất không thấp hơn 5% áp dụng chung với tất cả cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ, không loại trừ các trường đào tạo ngành đặc thù.

Cách thiết kế các yêu cầu này cho thấy, Thông tư 83 đã bước đầu tính đến sự khác biệt về đặc điểm hoạt động khoa học, chuyên môn giữa các nhóm trường. Tuy nhiên, việc Tiêu chí 6.1 vẫn áp dụng thống nhất cũng đặt ra câu hỏi về mức độ phù hợp của yêu cầu này với mô hình vận hành, cơ cấu ngành đào tạo và khả năng tạo nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các cơ sở đào tạo đặc thù.

Trường nghệ thuật chủ động phát triển nguồn thu từ hoạt động chuyên môn

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Nghệ sĩ Ưu tú, Tiến sĩ Bùi Như Lai - Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội cho biết, việc không yêu cầu các cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực Nghệ thuật và nhóm ngành thể dục, thể thao bắt buộc thực hiện tiêu chí 6.2 là điều chỉnh phù hợp với đặc thù của hoạt động đào tạo và sáng tạo nghệ thuật.

Quy định này giúp trường tập trung nguồn lực vào những sản phẩm mang tính đặc thù, thay vì chạy số lượng bài báo khoa học theo chuẩn khoa học kỹ thuật. Đồng thời, quy định này tạo thêm dư địa để nhà trường đánh giá kết quả chuyên môn của giảng viên sát với đặc thù ngành nghề. Đây cũng là cách tiếp cận giúp hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm chất lượng giáo dục đại học với việc tôn trọng tính đặc thù, sáng tạo và thực hành nghề nghiệp của lĩnh vực nghệ thuật.

Tiêu chí 6.1, Tiêu chuẩn 6, Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định: Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tổng thu của cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ (có tính trọng số theo lĩnh vực), tính trung bình trong 03 năm gần nhất không thấp hơn 5% (chỉ áp dụng đối với cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ). Trong khi đó, Chuẩn cơ sở giáo dục đại học hiện hành (Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT) không bắt buộc áp dụng tiêu chí này đối với các trường đào tạo ngành đặc thù.

Trong các lĩnh vực như sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật hay thiết kế, giá trị chuyên môn của giảng viên không chỉ được thể hiện qua bài báo khoa học, công trình nghiên cứu hay sáng chế. Một vở diễn được dàn dựng, một bộ phim, kịch bản, thiết kế sân khấu, phục trang, âm thanh, ánh sáng hay một tác phẩm nghệ thuật có giá trị cũng là kết quả của quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo và thực hành nghề nghiệp.

Ở lĩnh vực nghệ thuật, nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thường có tính biến động và khó tạo ra doanh thu lớn, ổn định như ở các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Không phải mọi sản phẩm sáng tạo đều hướng đến mục tiêu thương mại; trên thực tế, nhiều công trình, tác phẩm được thực hiện nhằm phục vụ nhiệm vụ văn hóa, chính trị, bảo tồn và phát huy các giá trị nghệ thuật nên giá trị đóng góp không dễ lượng hóa bằng doanh thu thị trường.

Trong bối cảnh đó, để đáp ứng yêu cầu nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chiếm tối thiểu 5% tổng thu, các cơ sở đào tạo nghệ thuật sẽ cần có sự chuẩn bị dài hạn. Bên cạnh việc nâng cao năng lực nghiên cứu và sáng tạo, nhà trường cũng phải từng bước xây dựng cơ chế đưa các sản phẩm, kết quả chuyên môn ra thị trường, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp và các đối tác ngoài công lập, qua đó hình thành thêm nguồn thu từ bản quyền, chuyển giao, dịch vụ chuyên môn và các hoạt động hợp tác công - tư.

thay-bui-nhu-lai.jpg
Nghệ sĩ Ưu tú, Tiến sĩ Bùi Như Lai - Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội. Ảnh website nhà trường.

Tuy nhiên, việc thương mại hóa sản phẩm nghệ thuật cũng cần được nhìn nhận phù hợp với chức năng xã hội và nhiệm vụ đào tạo, văn hóa của các trường. Nếu chỉ tập trung vào khả năng tạo doanh thu mà thiếu cơ chế tính đến những giá trị xã hội, văn hóa và chuyên môn mà các sản phẩm này mang lại, yêu cầu về tỷ trọng nguồn thu có thể chưa phản ánh đầy đủ đóng góp thực tế của các cơ sở đào tạo nghệ thuật.

Dù trước đây quy định về tỷ trọng nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không đặt ra yêu cầu bắt buộc đối với các cơ sở đào tạo ngành đặc thù, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội vẫn chủ động duy trì và phát triển nhiều hoạt động nghiên cứu, sáng tạo gắn trực tiếp với thế mạnh chuyên môn.

Trong lĩnh vực nghiên cứu, trường triển khai các đề tài cấp Bộ, cấp trường tập trung vào lý luận và thực tiễn sân khấu, điện ảnh; đồng thời nghiên cứu việc bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị nghệ thuật truyền thống. Hoạt động chuyên môn cũng được mở rộng thông qua các dự án sản xuất phim ngắn, dàn dựng vở diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội và các chương trình phối hợp với đơn vị nghệ thuật, cơ quan truyền thông.

Bên cạnh đó, nhà trường đẩy mạnh hợp tác đào tạo, tổ chức các liên hoan, hội thảo chuyên ngành với đối tác trong và ngoài nước. Những hoạt động này không chỉ tạo môi trường thực hành, kết nối nghề nghiệp cho người học mà còn hình thành các nguồn thu từ dịch vụ chuyên môn, bản quyền và chuyển giao tri thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực nghệ thuật.

Theo Tiến sĩ Bùi Như Lai, quy mô nguồn thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của trường hiện chưa thể so sánh với những cơ sở giáo dục đại học đa ngành, có thế mạnh về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, với một trường đào tạo chuyên sâu về sân khấu, điện ảnh, giá trị của các hoạt động này không chỉ được đo bằng doanh thu mà còn thể hiện ở chất lượng đào tạo, năng lực sáng tạo và đóng góp chuyên môn của nhà trường đối với đời sống nghệ thuật.

Nguồn thu chưa phản ánh đầy đủ năng lực nghiên khoa học của ngành đặc thù

Còn theo Tiến sĩ Đỗ Tuấn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội), trên thực tế, hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo diễn ra khá đa dạng, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, công bố quốc tế đến xây dựng chương trình, học liệu, bồi dưỡng giáo viên, khảo thí, tư vấn chính sách, hợp tác quốc tế và các hoạt động sáng tạo, biểu diễn nghệ thuật.

Điểm khác biệt nằm ở dạng thức của sản phẩm khoa học. Với nhiều trường đào tạo ngành đặc thù, kết quả nghiên cứu không nhất thiết được tạo ra dưới dạng sáng chế, thiết bị hay công nghệ có thể thương mại hóa trực tiếp. Sản phẩm có thể là tri thức, phương pháp, mô hình giáo dục, chương trình đào tạo, học liệu, công cụ đánh giá, dữ liệu ngôn ngữ, các giải pháp chính sách, tác phẩm hoặc sản phẩm văn hóa, nghệ thuật,...

Với đặc thù sản phẩm như trên, nguồn thu từ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của các trường đào tạo ngành đặc thù chủ yếu hình thành thông qua dịch vụ chuyên môn, chuyển giao tri thức, hợp tác quốc tế, tài trợ hoặc thực hiện các nhiệm vụ, đề án theo đặt hàng của Nhà nước và địa phương. Trong khi đó, việc thương mại hóa trực tiếp các sản phẩm nghiên cứu vẫn còn hạn chế.

Do đó, mức thu từ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa phản ánh được khối lượng hay chất lượng hoạt động khoa học của nhà trường. Đặc biệt, với các lĩnh vực như lý luận, lịch sử, nghiên cứu cơ bản hay một số ngành khoa học xã hội và giáo dục - vốn là những lĩnh vực đào tạo tiến sĩ quan trọng tại nhiều trường đào tạo ngành đặc thù, việc tạo doanh thu từ thị trường không phải lúc nào cũng là mục tiêu hay khả năng thực tế của hoạt động nghiên cứu.

ts-do-tuan-minh.jpg
Tiến sĩ Đỗ Tuấn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NTCC.

Việc quy định tỷ trọng nguồn thu từ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tính trung bình trong 3 năm gần nhất không thấp hơn 5% có thể được xem là một định hướng tích cực, tạo động lực để các cơ sở đào tạo tăng cường gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao và phát triển sản phẩm, dịch vụ.

Tuy nhiên, khi áp dụng tiêu chí về tỷ trọng nguồn thu này, các trường đào tạo ngành đặc thù có thể gặp bốn điểm nghẽn.

Thứ nhất là điểm nghẽn về quản trị. Không ít hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và chuyên môn được thực hiện bởi cá nhân hoặc nhóm giảng viên nhưng chưa được tổ chức thành nhiệm vụ, sản phẩm hay dịch vụ do nhà trường quản lý. Vì vậy, hoạt động có giá trị nhưng chưa chắc hình thành nguồn thu chính thức để được tính vào chỉ tiêu.

Thứ hai là đặc thù của sản phẩm khoa học. Nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị về học thuật và xã hội nhưng cần một quá trình dài để được tiếp nhận, ứng dụng hoặc chuyển giao. Không phải sản phẩm nào cũng có thể nhanh chóng chuyển thành hợp đồng, dịch vụ hoặc doanh thu.

Thứ ba là hạn chế về nguồn lực. Giảng viên tại các trường đặc thù vẫn phải dành nhiều thời gian cho giảng dạy, thực hành và các nhiệm vụ chuyên môn. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, nguồn lực dành cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm và tìm kiếm đối tác chuyển giao sẽ bị hạn chế.

Thứ tư là nguy cơ lệch định hướng nghiên cứu. Nếu áp lực tạo doanh thu trở thành một tiêu chí quá lớn, các trường có thể có xu hướng ưu tiên những lĩnh vực dễ tạo nguồn thu, trong khi nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu xã hội, nghiên cứu giáo dục hoặc những lĩnh vực cần đầu tư dài hạn nhưng khó thương mại hóa có nguy cơ bị xem nhẹ.

Từ góc độ này, việc sử dụng tỷ trọng nguồn thu để đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học có thể đặt ra một nghịch lý: một cơ sở đào tạo có hoạt động nghiên cứu tốt nhưng sản phẩm khó thương mại hóa có thể bị đánh giá thấp hơn một cơ sở có điều kiện thuận lợi để chuyển sản phẩm thành doanh thu.

Doanh thu có thể phản ánh khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nhưng chưa thể phản ánh đầy đủ giá trị của hoạt động khoa học. Với các trường đào tạo ngành đặc thù, ngoài khả năng tạo nguồn thu, cần xem xét cả chất lượng công bố, sản phẩm nghiên cứu, mức độ ứng dụng, tác động xã hội, đóng góp cho chính sách, giáo dục, văn hóa và sự phát triển của ngành.

tieu-ban-2-9583.jpg
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội thường xuyên tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên, giảng viên nhà trường. Ảnh: NTCC.

Dù vậy, Tiến sĩ Đỗ Tuấn Minh cho rằng các trường đào tạo ngành đặc thù vẫn cần đáp ứng chuẩn chung về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy nghiên cứu gắn với ứng dụng, chuyển giao. Tuy nhiên, áp dụng một tỷ lệ nguồn thu như nhau cho mọi trường có thể chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về ngành đào tạo, sản phẩm khoa học và khả năng tiếp cận thị trường.

“Cần phân biệt giữa năng lực nghiên cứu và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Một công trình có giá trị học thuật, giáo dục hoặc xã hội lớn chưa chắc tạo ra doanh thu trực tiếp. Vì vậy, chính sách nên theo hướng “chuẩn chung, cách đo riêng”, kết hợp chỉ tiêu doanh thu với các tiêu chí về chuyển giao, ứng dụng, sản phẩm trí tuệ và tác động xã hội.

Thời gian tới, nhà trường cần chuyển từ tư duy nghiên cứu chủ yếu để công bố sang phát triển tri thức, sản phẩm và giải pháp có khả năng ứng dụng, nhưng không chạy theo thương mại hóa bằng mọi giá.

Trước hết, cần đưa các hoạt động sáng tạo của giảng viên vào hệ thống quản lý của nhà trường, gắn với cơ chế sở hữu trí tuệ, bản quyền và hạch toán. Đồng thời, phát triển sản phẩm, dịch vụ theo thế mạnh từng lĩnh vực như biểu diễn, sản xuất phim, khai thác bản quyền nghệ thuật; đào tạo, khảo thí, học liệu số, tư vấn chính sách và các sản phẩm ngôn ngữ.

Các trường cũng cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, địa phương và đối tác quốc tế; chủ động tham gia nhiệm vụ khoa học theo đặt hàng, nghiên cứu ứng dụng AI và phát triển dữ liệu ngôn ngữ. Quá trình này cần đi đôi với việc bảo đảm nguồn lực cho giảng viên và duy trì nghiên cứu cơ bản.

Cơ quan quản lý nên nghiên cứu phân nhóm hoặc áp dụng hệ số điều chỉnh theo lĩnh vực; hướng dẫn rõ các khoản thu đặc thù được tính vào nguồn thu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần kết hợp chỉ tiêu doanh thu với chất lượng sản phẩm, mức độ ứng dụng, chuyển giao và đóng góp xã hội.

Nhà nước cũng cần duy trì cơ chế đặt hàng, tài trợ cho các lĩnh vực có giá trị lâu dài nhưng khó thương mại hóa như lý luận, lịch sử, nghiên cứu cơ bản, giáo dục và văn hóa nghệ thuật”, Tiến sĩ Đỗ Tuấn Minh cho hay.

Việc áp dụng tỷ trọng thu khoa học công nghệ sẽ tạo cơ hội để các trường chuẩn hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để thực hiện thực chất, cần đồng thời thể chế hóa hoạt động sáng tạo thành nguồn thu chính thức và xây dựng phương thức đánh giá phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực. Mục tiêu không chỉ là thu được bao nhiêu tiền từ nghiên cứu, mà còn là tạo ra bao nhiêu giá trị cho xã hội và chuyển hóa được bao nhiêu kết quả thành nguồn lực tái đầu tư cho khoa học.

Thúy Hiền