GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc - người thầy giúp tôi theo đuổi và phát triển sự nghiệp khoa học giáo dục

03/08/2026 06:22
NGƯT.TS Nguyễn Tùng Lâm, Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc đã truyền thụ tri thức khoa học, tận tâm dìu dắt nhiều thế hệ học trò cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc - nguyên ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, VII, VIII; nguyên Phó Trưởng ban Thứ nhất ban Khoa giáo Trung ương; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục; đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII qua đời đã để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và nhiều thế hệ nhà giáo, nhà khoa học.

Để bày tỏ lòng tri ân người thầy của mình, Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm – Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam đã gửi tới Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết chia sẻ những kỷ niệm về Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc.

Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

dsc7669.jpg
Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm - tác giả bài viết. Ảnh: Ngọc Mai

Con đường tầm sư học đạo với khoa học tâm lý giáo dục

Thầy Phạm Minh Hạc là nhà khoa học lớn, một trong những "cây đại thụ" của ngành tâm lý học, giáo dục học Việt Nam; và là nhà quản lý có nhiều đóng góp quan trọng cho nền giáo dục nước nhà. Với tôi, thầy đã truyền thụ tri thức khoa học, tận tâm dìu dắt nhiều thế hệ học trò cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Xuất phát điểm chỉ là một cử nhân Ngữ văn, tôi không được đào tạo bài bản về tâm lý giáo dục. Tuy nhiên, gần 60 năm gắn bó với nghề dạy học, tôi càng thấm thía rằng, để trưởng thành và thành công, mỗi người cần có một gia đình hạnh phúc, những người bạn chân thành và trên hết là may mắn gặp được những người minh sư.

Mỗi nơi tôi gắn bó, từ Trường Trung học phổ thông Cao Bá Quát - Gia Lâm, Công đoàn ngành Giáo dục Hà Nội, Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) đến Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam đều giúp tôi trưởng thành và gặp được những người thầy, người bạn đồng hành quý báu.

Bước ngoặt đến vào năm 1978 khi bài báo khoa học đầu tiên của tôi mang tên "Dạy may, dạy người" được đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục. Theo lời kể của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo, khi đó Giáo sư Phạm Minh Hạc - Thứ trưởng Bộ Giáo dục, kiêm Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, cùng Giáo sư Hà Thế Ngữ đã đánh giá cao và biểu dương bài viết trước toàn Viện. Sự ghi nhận ấy trở thành nguồn động viên lớn để tôi tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học giáo dục.

Sau này, trong thời gian công tác tại Công đoàn ngành Giáo dục Hà Nội và xây dựng mô hình Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng, tôi có điều kiện học cao học, nghiên cứu sinh và được nhiều nhà khoa học đầu ngành hướng dẫn. Dù chưa từng trực tiếp học trên lớp với Giáo sư Phạm Minh Hạc, tôi luôn coi thầy là một ân sư.

Thầy thường gửi tặng tôi những cuốn sách mới do thầy biên soạn, tận tình trao đổi mỗi khi tôi gặp khó khăn trong việc vận dụng khoa học tâm lý giáo dục vào thực tiễn, đặc biệt trong quá trình xây dựng mô hình giáo dục tại Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng.

Tôi may mắn được tham gia nhiều hoạt động khoa học của Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Giáo sư Phạm Minh Hạc và sau này là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Kiều. Hội đã bồi đắp cho tôi nền tảng tri thức về tâm lý giáo dục, tạo môi trường để nghiên cứu, sáng tạo và vận dụng khoa học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của giáo dục Việt Nam. Với tôi, trước sự nghiệp khoa học và những cống hiến to lớn của Giáo sư Phạm Minh Hạc, bản thân chỉ là một học trò nhỏ, nguyện tiếp tục gìn giữ, lan tỏa những giá trị và minh triết giáo dục mà thầy đã dày công vun đắp.

thay-hac-8057.jpg
Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc. Ảnh: Xuân Trung

Phát triển mô hình nhân cách con người Việt Nam

Những tri thức mà Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc trao truyền, tôi luôn nỗ lực vận dụng và phát triển trong thực tiễn giáo dục với tinh thần tiếp nối. Một trong những minh chứng rõ nét là quá trình nghiên cứu và xây dựng mô hình phát triển nhân cách con người Việt Nam.

Trong quá trình thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài "Phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của học sinh phổ thông trung học Hà Nội hiện nay", tôi có cơ hội tiếp cận ba công trình khoa học quan trọng do Giáo sư Phạm Minh Hạc công bố năm 2001, gồm: Về con người trong công cuộc đổi mới (đề tài KX-07); Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa; Và về phát triển con người đi vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đây là những tài liệu có giá trị nền tảng, giúp tôi định hình tư duy nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn giáo dục.

Từ những quan điểm của Giáo sư Phạm Minh Hạc, tôi vận dụng mô hình phát triển con người toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với hạt nhân là một nhân cách phát triển hài hòa trên ba phương diện: nội tâm thống nhất, lành mạnh, ổn định và tích cực; xây dựng quan hệ nhân ái, hữu nghị, hợp tác với mọi người; đồng thời say mê, sáng tạo, thích ứng và đạt hiệu quả trong công việc, sự nghiệp. Trên cơ sở đó, chúng tôi bổ sung thêm một nội dung quan trọng là con người phải biết tôn trọng, bảo vệ và gìn giữ sự cân bằng hài hòa với môi trường sống.

Đối chiếu mô hình này với sự phát triển nhân cách của học sinh yếu kém về đạo đức, tôi nhận thấy các em thường bộc lộ sự thiếu hụt và lệch lạc về nhận thức; tình cảm thiếu lành mạnh, dễ biến động; hành vi thiếu nhất quán và khó kiểm soát. Điều đó hoàn toàn phù hợp với nhận định của Giáo sư Phạm Minh Hạc rằng, sự phát triển hài hòa về tâm lý bên trong được tạo nên bởi sự thống nhất giữa nhu cầu, động cơ, hứng thú, trí tuệ, tài năng, nhân sinh quan, hệ giá trị, lý tưởng và niềm tin; đồng thời là sự thống nhất giữa lời nói với hành động, giữa nhận thức và khả năng tự điều chỉnh hành vi theo chuẩn mực đạo đức xã hội. Khi con người đánh mất sự thống nhất nội tại trong nhân cách sẽ dẫn đến lệch lạc về nhận thức, biến thái về tình cảm và mất khả năng kiểm soát hành vi.

Từ góc nhìn đó, tôi cho rằng học sinh yếu kém về đạo đức chính là những em đã đánh mất sự thống nhất nội tại trong nhân cách, không còn khả năng điều chỉnh kịp thời mối quan hệ giữa bản thân với thế giới xung quanh. Đây cũng là nguyên nhân cốt lõi cần được giải quyết trong quá trình giáo dục, thay vì chỉ nhìn vào biểu hiện hành vi bên ngoài.

Điều khiến tôi đặc biệt vui mừng là mô hình phát triển nhân cách mà thầy và trò chúng tôi theo đuổi nhiều năm qua đã được hiện thực hóa trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 thông qua hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp từ lớp 1 đến lớp 12, với bốn nội dung xuyên suốt gồm: tìm hiểu bản thân, tìm hiểu người khác, tìm hiểu nghề nghiệp và tìm hiểu môi trường tự nhiên - xã hội.

Tại Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng, chúng tôi tiếp tục phát triển thành công mô hình "nhân cách tự học, tự rèn" của học sinh. Mô hình được xây dựng trên nền tảng các chương trình giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, hướng nghiệp, kỷ luật tích cực, giáo dục "5 Tự" và "Văn hóa phát triển bản thân", từ đó nuôi dưỡng "cây phát triển nhân cách" theo bốn trụ cột giáo dục của UNESCO: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người. Đó cũng là cách tôi tiếp tục kế thừa và hiện thực hóa những tư tưởng khoa học giáo dục mà Giáo sư Phạm Minh Hạc đã dày công vun đắp.

Phát huy triết lý giáo dục "Giá trị bản thân"

Từ năm 1991, Giáo sư Phạm Minh Hạc được Nhà nước giao chủ trì ba chương trình khoa học cấp Nhà nước gồm KX-07, KHXH-04 và KX-05. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đến năm 2010, Giáo sư hoàn thành công trình Giá trị học - Cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung của con người Việt Nam thời nay. Đây là một đóng góp có ý nghĩa đặc biệt đối với việc xây dựng nền giáo dục nhân văn, lấy con người làm trung tâm, hướng tới sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành, để mỗi người có thể tạo dựng giá trị cho bản thân, gia đình và xã hội.

Từ những nghiên cứu đó, Giáo sư Phạm Minh Hạc đã phát triển triết lý giáo dục về "giá trị bản thân", trong đó xác định hệ giá trị chung mà mỗi con người cần hướng tới, gồm:

Giá trị nhân loại, giá trị toàn cầu.

Chân - Thiện - Mỹ, ba giá trị phổ quát của nhân loại.

Giá trị sống còn - giá trị quan trọng nhất của quyền được sống.

Lao động là giá trị gốc.

Trách nhiệm xã hội là giá trị cao quý nhất.

Giá trị gia đình.

Giá trị quyền công dân và quyền con người.

Từ quan niệm về hệ giá trị chung đó, Giáo sư tiếp tục nhấn mạnh những yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị bản thân của mỗi con người trong suốt quá trình học tập, lao động và trưởng thành.

Trước hết là ba thành tố lớn của giá trị bản thân, gồm: Tâm lực; Trí lực; Thể lực.

Bên cạnh đó là bốn thành tố cụ thể mà mỗi người cần không ngừng hình thành và phát huy, bao gồm: Tồn tại; Hoạt động; Hưởng thụ; Cống hiến.

Giáo sư cũng phân tích bốn yếu tố cơ bản tác động đến quá trình hình thành giá trị bản thân của mỗi con người, gồm: Nhà nước, nhà trường, gia đình và người học. Trong đó, người học giữ vai trò trung tâm của quá trình tự phát triển.

Phong cách sống "5 Tự"

Quán triệt triết lý giáo dục về phát triển giá trị bản thân của Giáo sư Phạm Minh Hạc, Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng xây dựng và rèn luyện cho học sinh phong cách sống "5 Tự", gồm: Tự học sáng tạo, Tự chủ, Tự trọng, Tự tin và Tự chịu trách nhiệm. Đây là những phẩm chất cốt lõi giúp học sinh phát triển nhân cách, làm chủ bản thân và chuẩn bị hành trang cho cuộc sống.

Thứ nhất, tự học sáng tạo.

Mỗi học sinh khi đến trường cần tìm được phương pháp tự học phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân và duy trì tinh thần học tập ấy trong suốt cuộc đời.

Để làm được điều đó, trước hết học sinh phải hình thành niềm yêu thích học tập, chủ động, tích cực tự học, có niềm tin rằng học tập không phải là điều quá khó khăn; luôn biết liên hệ kiến thức với thực tiễn và tìm thấy hứng thú trong quá trình học.

Bên cạnh đó, học sinh cần biết cách học thông qua việc xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch học tập, chú ý nghe giảng, biết ghi chép, tích cực tham gia thảo luận, phản biện, vận dụng sơ đồ tư duy và áp dụng kiến thức vào đời sống.

Việc tự học chỉ thực sự bền vững khi trở thành thói quen. Vì vậy, mỗi học sinh phải hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ học tập, không để việc hôm nay sang ngày mai, học mọi lúc, mọi nơi và luôn gắn bài học với thực tiễn cuộc sống.

Hiệu quả học tập cần được đánh giá thường xuyên thông qua các mức độ: nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức. Từ đó, học sinh chủ động điều chỉnh kế hoạch, lựa chọn phương pháp học phù hợp với bản thân và tự rút ra bài học kinh nghiệm để việc tự học ngày càng hiệu quả.

Thành công trong học tập chỉ đến khi mỗi người có ý chí, quyết tâm, sự kiên trì, nỗ lực thường xuyên để vượt qua khó khăn, thử thách và hoàn thành từng nhiệm vụ cụ thể. Mỗi học sinh cũng cần lựa chọn phương pháp học phù hợp với bản thân, đồng thời nhận thức rằng điểm số chỉ là tiêu chí tham khảo; mục tiêu học tập và đích đến của quá trình học mới là điều quan trọng nhất.

Thứ hai, tự chủ.

Tự chủ là một phẩm chất quan trọng của nhân cách, giúp mỗi học sinh làm chủ cuộc sống của chính mình.

Mỗi học sinh cần thường xuyên suy ngẫm để xác định hoài bão, ước mơ, kiên trì theo đuổi mục tiêu của từng năm học cũng như mục tiêu lâu dài trong cuộc sống. Đồng thời, phải biết làm chủ suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của bản thân; có thiện chí hợp tác với mọi người để cùng phát triển và thành công.

Người học cũng cần xây dựng lối sống phù hợp với chuẩn mực xã hội và pháp luật; biết yêu thương, khoan dung, quan tâm, giúp đỡ mọi người; đặc biệt không ỷ lại, không dựa dẫm vào sự giúp đỡ của người khác.

Thứ ba, tự trọng.

Tự trọng là một nét đẹp của nhân cách, giúp học sinh vượt qua khó khăn, đồng thời tạo dựng sự tin yêu, quý mến của mọi người.

Điều đó được thể hiện ở việc biết coi trọng danh dự, nhân phẩm của bản thân, tôn trọng sự khác biệt của người khác; luôn trung thực trong suy nghĩ, lời nói và hành động; biết xấu hổ khi mắc sai lầm, biết nhận lỗi và sửa lỗi để hoàn thiện bản thân.

Thứ tư, tự tin.

Tự tin là khả năng khẳng định giá trị của bản thân trong mọi hoàn cảnh và là nền tảng quan trọng dẫn đến thành công.

Để có được sự tự tin, học sinh cần không ngừng học tập, trau dồi kiến thức khoa học và hiểu biết về cuộc sống; đánh giá đúng năng lực của bản thân, nhận diện cả điểm mạnh và điểm yếu để kiên trì rèn luyện; luôn suy nghĩ thấu đáo, chín chắn và mạnh dạn bày tỏ chính kiến.

Đồng thời, mỗi học sinh phải biết vượt qua nỗi sợ hãi, khó khăn và thử thách trong cuộc sống; dám bảo vệ quan điểm đúng đắn của mình nhưng không chủ quan, ngạo mạn hoặc mặc cảm, tự ti.

Thứ năm, tự chịu trách nhiệm.

Tự chịu trách nhiệm là một nguyên tắc sống quan trọng mà mỗi học sinh cần rèn luyện thường xuyên để xây dựng uy tín và tạo được niềm tin đối với mọi người.

Mỗi học sinh phải luôn thực hiện nguyên tắc: làm đúng, làm có ích, không làm điều gây hại và nỗ lực hoàn thành tốt nhất công việc được giao. Trước mỗi hành động cần suy nghĩ thấu đáo; trung thực trong tự đánh giá và sẵn sàng chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân.

Bên cạnh đó, học sinh cần biết chia sẻ khó khăn với mọi người; có ý thức sống vì người khác, vì cộng đồng và vì môi trường; không đổ lỗi cho người khác hoặc hoàn cảnh, dám nhận lỗi và sẵn sàng chịu trách nhiệm đối với những sai sót, thiệt hại do sự thiếu trách nhiệm của mình gây ra.

Từ triết lý giáo dục về "giá trị bản thân" của Giáo sư Phạm Minh Hạc, Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng xây dựng mô hình "Văn hóa phát triển" dành cho cán bộ, giáo viên và học sinh theo công thức: Vft = đ.t.h – x² + CĐ.

Trong đó, Vft là văn hóa phát triển của mỗi cá nhân và tập thể. Mỗi người cần xây dựng động lực sống, không ngừng đổi mới bản thân (đ); rèn luyện tinh thần tận tâm, tận lực, tận hiến, hướng tới trí sáng - tâm an - thân khỏe (t); đồng thời luôn học hỏi, hợp tác và hướng nghiệp (h) với tinh thần "Ham học - Ham làm - Ham tiến bộ" như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên cạnh việc bồi đắp những giá trị tích cực, mỗi người cũng phải thường xuyên tự soi xét, tự đánh giá, sửa chữa những hạn chế, loại bỏ các hành vi "xấu xí" (x²). Mục tiêu là nuôi dưỡng khát vọng cống hiến, đóng góp cho cộng đồng (CĐ), qua đó không ngừng hoàn thiện bản thân và lan tỏa những giá trị tốt đẹp đến xã hội.

Giáo sư Phạm Minh Hạc ghi nhận giá trị của mô hình giáo dục Đinh Tiên Hoàng

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục (khi đó), Giáo sư Phạm Minh Hạc luôn dành sự quan tâm đối với sự hình thành và phát triển của Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng. Tuy nhiên, đến dịp kỷ niệm 20 năm thành lập trường (năm 2009), Giáo sư mới có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu toàn diện về mô hình giáo dục của nhà trường. Với cương vị Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam, Giáo sư đã có bài viết "Bài học về mô hình giáo dục Đinh Tiên Hoàng", trong đó đưa ra nhiều đánh giá sâu sắc cả trên phương diện thực tiễn và lý luận giáo dục.

Theo đó, bài học lớn nhất mà Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng mang lại cho nền giáo dục nước nhà là xây dựng thành công mô hình giáo dục dành cho những học sinh không có cơ hội học tại các trường công lập hoặc từng gặp khó khăn trong học tập, rèn luyện, thậm chí vi phạm kỷ luật hay bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội. Đây là nhóm đối tượng rất khó giáo dục, nhưng trong suốt 20 năm, nhà trường đã tiếp nhận hàng chục nghìn học sinh, giúp các em trưởng thành, đạt kết quả học tập tích cực và có cơ hội học tiếp hoặc lập nghiệp.

Giáo sư đánh giá, thành công của Đinh Tiên Hoàng nằm ở những con số về tỷ lệ tốt nghiệp hay học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng, mang lại cơ hội thay đổi cuộc đời cho hàng nghìn học sinh, góp phần tạo nguồn nhân lực có đạo đức, nghề nghiệp và có ích cho xã hội.

Giáo sư đặc biệt ghi nhận việc Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng ngay từ khi thành lập đã kiên trì theo đuổi nhiệm vụ nghiên cứu khoa học giáo dục. Hoạt động dạy học của nhà trường được xây dựng trên ba khái niệm cốt lõi của tâm lý học và giáo dục hiện đại là hoạt động - nhân cách - giao tiếp, coi trọng việc khơi dậy động lực tự học, tự rèn luyện, đánh thức hoài bão và ước mơ của mỗi học sinh.

Theo Giáo sư, mô hình giáo dục của nhà trường là minh chứng sinh động cho quan điểm "nhân cách được hình thành thông qua hoạt động". Đồng thời, nhà trường luôn đề cao mối quan hệ thầy - trò, tôn trọng học sinh, phát huy tinh thần tự giác, lấy nhân cách của người thầy để cảm hóa học sinh và phối hợp chặt chẽ với gia đình trong giáo dục.

Giáo sư cũng đánh giá cao việc Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng sớm triển khai giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh.

Đối với tôi, những đánh giá của Giáo sư Phạm Minh Hạc là sự ghi nhận đối với mô hình giáo dục Đinh Tiên Hoàng, là nguồn động viên, định hướng để chúng tôi tiếp tục theo đuổi con đường giáo dục mà thầy đã chỉ dẫn.

Nhà trường sẽ luôn ghi nhớ lời căn dặn của Giáo sư: "Nghiên cứu tâm lý học hoạt động đã đưa chúng tôi đến kết luận phải nghiên cứu giá trị học (giáo dục giá trị, tâm lý học giá trị), làm sao mỗi học sinh hình thành cho mình những giá trị và thái độ đúng đối với các giá trị của người khác, của xã hội; biết vận dụng vào cuộc sống, đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội, được cộng đồng công nhận, đánh giá và trọng dụng."

Những trăn trở của thầy với giáo dục Việt Nam

Điều khiến tôi vô cùng kính trọng Giáo sư Phạm Minh Hạc là những công trình nghiên cứu đồ sộ về tâm lý học và giáo dục, sự trăn trở thường trực trước những vấn đề của giáo dục nước nhà. Mỗi lần gặp gỡ, thầy luôn ân cần hỏi han, chia sẻ với chúng tôi về những khó khăn, bất cập của ngành và nhiều lần đặt ra những câu hỏi lớn: Vì sao các trường phổ thông vẫn chưa thực sự được trao quyền tự chủ? Vì sao chủ trương tại Nghị quyết số 29-NQ/TW về việc nhà giáo được hưởng mức lương cao nhất trong hệ thống hành chính sự nghiệp nhưng vẫn chưa thực hiện được?...

Thầy luôn nhắc chúng tôi rằng, trong mọi hoạt động giáo dục phải chủ động, sáng tạo nhưng tuyệt đối không được xa rời thực tiễn. Đó cũng là điều chúng tôi luôn trăn trở trong quá trình xây dựng mô hình giáo dục của Trường Trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng.

Công lao của Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc đối với nền khoa học giáo dục Việt Nam là vô cùng to lớn. Với riêng tôi, thầy là người ân sư đã truyền cảm hứng, dìu dắt và tiếp thêm niềm tin để tôi theo đuổi con đường nghiên cứu, thực hành khoa học tâm lý giáo dục.

Tiễn biệt thầy, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và nguyện tiếp tục gìn giữ, lan tỏa những tư tưởng, minh triết giáo dục mà thầy đã dày công vun đắp, để những giá trị ấy tiếp tục được hiện thực hóa trong đời sống học đường Việt Nam.

Lễ viếng của Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc được tổ chức vào 7h30 ngày 5/8/2026 (tức ngày 23 tháng 6 năm Bính Ngọ) tại Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Lễ truy điệu và đưa tang vào lúc 9h30 ngày 5/8/2026 cùng ngày.

Hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ, Văn Điển, Hà Nội. An táng tại nghĩa trang quê nhà Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội (nay là xã Nam Phù, Hà Nội).

NGƯT.TS Nguyễn Tùng Lâm, Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam