Hàng loạt ngành học trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ sẽ đổi tên

25/09/2026 06:20
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Từ ngày 12/10/2026, nhiều ngành đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ sẽ đổi tên hoặc được quy về các tên ngành mới theo Danh mục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Theo Thông tư số 74/2026/TT-BGDĐT quy định Danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, văn bản có hiệu lực thi hành từ ngày 12/10/2026 và chính thức áp dụng đối với các khóa tuyển sinh từ ngày 1/1/2027.

Danh mục mới không chỉ bổ sung, điều chỉnh mã ngành mà còn thay đổi tên của nhiều ngành đang có trong danh mục hiện hành. Nhiều ngành có phạm vi chuyên sâu nay được quy về tên ngành rộng hơn, trong khi một số ngành được đổi sang tên gọi mới.

Những thay đổi này được áp dụng ở cả ba trình độ: đại học (trình độ 7), thạc sĩ (trình độ 8) và tiến sĩ (trình độ 9).

Nhiều ngành sư phạm nay mang tên chung

Trong lĩnh vực Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên, ngành Khoa học giáo dục nay mang tên Giáo dục học, áp dụng ở các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Hai ngành Lý luận và lịch sử giáo dục và Lý luận, Phương pháp và Công nghệ dạy học cũng được quy về ngành Giáo dục học ở các trình độ tương ứng.

Ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn nay mang tên Lý luận và phương pháp dạy học. Ngành Quản trị trường học được đổi thành Quản lý giáo dục ở các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.

Một số ngành sư phạm cũng nay mang tên chung. Tám ngành gồm: Sư phạm Tiếng Bana, Sư phạm Tiếng Êđê, Sư phạm Tiếng Jrai, Sư phạm Tiếng Khmer, Sư phạm Tiếng H'mong, Sư phạm Tiếng Chăm, Sư phạm Tiếng M'nông và Sư phạm Tiếng Xêđăng nay được quy về ngành Sư phạm tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam ở trình độ đại học.

Tương tự, các ngành Sư phạm Tiếng Anh, Sư phạm Tiếng Nga, Sư phạm Tiếng Pháp, Sư phạm Tiếng Trung Quốc, Sư phạm Tiếng Đức, Sư phạm Tiếng Nhật và Sư phạm Tiếng Hàn Quốc nay mang tên chung Sư phạm tiếng nước ngoài ở trình độ đại học.

Lĩnh vực nghệ thuật có nhiều ngành đổi tên

Ở lĩnh vực Nghệ thuật, Lý luận và lịch sử mỹ thuật được đổi thành Lý luận, lịch sử và phê bình mỹ thuật ở các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.

Ngành Nghệ thuật thị giác nay mang tên Hội họa ở trình độ đại học; Gốm nay mang tên Thủ công mỹ nghệ.

Trong nhóm Âm nhạc, Nghệ thuật âm nhạc và Sáng tác âm nhạc nay cùng mang tên Âm nhạc học. Quản lý âm nhạc được đổi thành Quản lý nghệ thuật. Hai ngành Piano và Nhạc Jazz nay được quy về Biểu diễn nhạc cụ phương tây.

Ở nhóm sân khấu, Lý luận và lịch sử sân khấu và Nghệ thuật sân khấu nay cùng mang tên Lý luận, lịch sử và phê bình sân khấu. Trong khi đó, Đạo diễn sân khấu được đổi thành Nghệ thuật sân khấu.

Hai ngành Biên kịch sân khấu và Biên kịch điện ảnh, truyền hình nay cùng mang tên Biên kịch. Hai ngành Diễn viên sân khấu kịch hát và Diễn viên kịch, điện ảnh - truyền hình nay cùng mang tên Diễn viên. Huấn luyện múa được đổi thành Biên đạo múa.

Nhiều ngành được quy về tên rộng hơn

Trong lĩnh vực Nhân văn, Giảng dạy Tiếng Việt như một ngoại ngữ được đổi thành Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam ở trình độ đại học, thạc sĩ.

Bốn ngành Ngôn ngữ Jrai, Ngôn ngữ Khmer, Ngôn ngữ H'mong và Ngôn ngữ Chăm nay được quy về Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam ở trình độ thạc sĩ và tiến sĩ.

Ngành Ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam được đổi thành Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam ở trình độ đại học.

Ở lĩnh vực văn học, Văn học dân gian nay được quy về Văn học Việt Nam; các ngành Sáng tác văn học, Lý luận văn học và Văn học so sánh nay được quy về Văn học ở các trình độ tương ứng.

Hai ngành Văn hóa dân gian và Văn hóa so sánh nay cùng mang tên Văn hóa học.

Các ngành Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử, Logic học, Đạo đức học và Mỹ học nay được quy về ngành Triết học. Ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc được đổi thành Lịch sử Thế giới.

Khối kinh tế, tâm lý, báo chí và quản lý cũng có nhiều tên mới

Trong lĩnh vực Khoa học xã hội và hành vi, các ngành Kinh tế giáo dục vùng dân tộc thiểu số, Kinh tế và quản lý tài nguyên biển, Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và Kinh tế xây dựng nay được quy về ngành Kinh tế học.

Hai ngành Khoa học hành vi và Tâm lý học thể thao nay được quy về Tâm lý học. Tâm lý học lâm sàng và trẻ em vị thành niên được đổi thành Tâm lý học lâm sàng ở trình độ đại học. Tham vấn học đường nay mang tên Tâm lý học giáo dục.

Ngành Châu Á - Thái Bình Dương học được đổi thành Thái Bình Dương học.

Trong lĩnh vực Báo chí và thông tin, Truyền thông chính sách nay được quy về Truyền thông đại chúng. Quản lý thông tin được đổi thành Thông tin học. Các ngành Khoa học thông tin thư viện và Thông tin - Thư viện nay cùng mang tên Khoa học thư viện.

Ở lĩnh vực Kinh doanh và quản lý, các ngành Quản trị thương hiệu, Quản trị doanh nghiệp và công nghệ, Quản trị công nghiệp và phát triển doanh nghiệp nay được quy về Quản trị kinh doanh.

Hai ngành Digital marketing và Marketing và truyền thông nay được quy về Marketing. Các ngành Kinh doanh thời trang và dệt may, Kinh doanh xuất bản phẩm, Kinh doanh nông nghiệp và Kinh doanh và khởi nghiệp nông thôn nay được quy về Kinh doanh thương mại.

Ngành Kinh tế tài chính được đổi thành Tài chính - Ngân hàng; Lãnh đạo, quản lý và chính sách được đổi thành Khoa học quản lý; Quan hệ lao động được đổi thành Quản trị nhân lực.

Nhiều ngành khoa học cơ bản nay mang tên rộng hơn

Trong lĩnh vực Khoa học sự sống, nhiều ngành chuyên sâu nay được quy về tên ngành rộng hơn. Cụ thể, Động vật học, Sinh lý học người và động vật, Ký sinh trùng học, Côn trùng học, Thủy sinh vật học, Thực vật học, Sinh lý học thực vật và Sinh học thực nghiệm nay được quy về Sinh học ở các trình độ tương ứng.

Hai ngành Công nghệ sinh học nông nghiệp và Công nghệ sinh học y dược nay cùng mang tên Công nghệ sinh học.

Trong Khoa học tự nhiên, Vật lý lý thuyết và vật lý toán và Vật lý vô tuyến và điện tử nay được quy về Vật lý học; Cơ học vật rắn và Cơ học chất lỏng và chất khí nay được quy về Cơ học.

Hóa môi trường được đổi thành Hóa học. Hóa học các hợp chất thiên nhiên và Vật liệu cao phân tử và tổ hợp nay được quy về Hóa hữu cơ; Hóa lý thuyết và hóa lý được đổi thành Hóa lý.

Các ngành Vật liệu điện tử, Vật liệu quang học, quang điện tử và quang tử, Kim loại học nay được quy về Khoa học vật liệu.

Khoáng vật học và địa hóa học được đổi thành Địa chất học. Bản đồ học nay mang tên Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý. Địa mạo và cổ địa lý và Địa lý tài nguyên và môi trường nay được quy về Địa lý tự nhiên.

Ngành Biến đổi khí hậu và Phát triển bền vững được đổi thành Biến đổi khí hậu. Các ngành Môi trường, năng lượng và biến đổi khí hậu, Môi trường đất và nước và Độc học môi trường nay được quy về Khoa học môi trường. Bảo tồn thiên nhiên, môi trường và phát triển bền vững được đổi thành Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học ở trình độ tiến sĩ.

Từ toán học, máy tính đến kỹ thuật cũng đổi tên nhiều ngành

Trong lĩnh vực Toán và thống kê, các ngành Toán giải tích, Phương trình vi phân và tích phân, Đại số và lý thuyết số, Hình học và tôpô, Lý thuyết xác suất và thống kê toán học và Phương pháp toán sơ cấp nay được quy về Toán học.

Toán cơ được đổi thành Toán ứng dụng, còn Cơ sở toán học cho tin học được đổi thành Toán tin.

Trong lĩnh vực Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học và kỹ thuật máy tính và Khoa học máy tính và thông tin nay được quy về Khoa học máy tính. Kỹ thuật phần mềm ô tô được đổi thành Kỹ thuật phần mềm; Quản lý Hệ thống thông tin được đổi thành Hệ thống thông tin.

Hệ thống nhúng và IOT nay được quy về Kỹ thuật điện tử - viễn thông, trong khi Khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được đổi thành Trí tuệ nhân tạo.

Ở nhóm Công nghệ kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng được đổi thành Công nghệ kỹ thuật xây dựng; Công nghệ chế tạo máy được đổi thành Công nghệ kỹ thuật cơ khí.

Trong lĩnh vực Kỹ thuật, Kỹ thuật chế tạo nay được quy về Kỹ thuật cơ khí; Kỹ thuật điện, điện tử được đổi thành Kỹ thuật điện; Kỹ thuật viễn thông được đổi thành Kỹ thuật điện tử - viễn thông.

Kỹ thuật hóa dầu và lọc dầu nay được quy về Kỹ thuật hóa học; Kỹ thuật vật liệu kim loại được đổi thành Kỹ thuật vật liệu; Kỹ thuật dệt được đổi thành Kỹ thuật dệt, may.

Công nghệ kỹ thuật hạt nhân được đổi thành Kỹ thuật hạt nhân; Kỹ thuật thăm dò và khảo sát được đổi thành Kỹ thuật mỏ; Kỹ thuật khí thiên nhiên được đổi thành Kỹ thuật dầu khí.

Ngành xây dựng, nông nghiệp và thủy sản cũng thay đổi tên

Trong lĩnh vực Kiến trúc và xây dựng, Kiến trúc đô thị và Bảo tồn di sản kiến trúc - đô thị nay được quy về Kiến trúc. Phát triển đô thị bền vững và Thiết kế đô thị nay được quy về Quy hoạch vùng và đô thị.

Quản lý phát triển đô thị và bất động sản được đổi thành Quản lý đô thị và công trình.

Ở nhóm Kỹ thuật xây dựng, các ngành Hệ thống kỹ thuật công trình xây dựng, Kỹ thuật xây dựng công trình đặc biệt, Kỹ thuật xây dựng và trí tuệ nhân tạo và Kỹ thuật cấp thoát nước nay được quy về Kỹ thuật xây dựng.

Kỹ thuật xây dựng công trình biển được đổi thành Kỹ thuật xây dựng công trình thủy; Xây dựng công trình ngầm thành phố và hệ thống tàu điện ngầm được đổi thành Kỹ thuật xây dựng công trình ngầm; Địa kỹ thuật xây dựng được đổi thành Địa kỹ thuật.

Trong Nông, lâm nghiệp và thủy sản, Hệ thống nông nghiệp nay mang tên Nông nghiệp. Các ngành Chăn nuôi thú y, Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Di truyền và chọn giống vật nuôi nay được quy về Chăn nuôi.

Hai ngành Di truyền và chọn giống cây trồng và Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan nay được quy về Khoa học cây trồng. Di truyền và chọn giống cây lâm nghiệp được đổi thành Lâm học; Điều tra và quy hoạch rừng được đổi thành Quản lý tài nguyên rừng.

Ngành Bệnh học thủy sản nay mang tên Nuôi trồng thủy sản.

Y tế, du lịch và môi trường có nhiều tên ngành mới

Trong lĩnh vực Sức khỏe, Bệnh truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới được đổi thành Truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới.

Đáng chú ý, Khoa học Y sinh nay được quy về Y khoa ở trình độ đại học; Dịch tễ học thực địa được đổi thành Dịch tễ học.

Trong Dược học, các ngành Dược lý và dược lâm sàng, Dược liệu - Dược học cổ truyền, Kiểm nghiệm thuốc và độc chất và Tổ chức quản lý dược nay được quy về Dược học. Công nghệ dược phẩm và bào chế thuốc được đổi thành Công nghệ dược phẩm; Hóa sinh dược được đổi thành Hóa dược.

Hai ngành Dinh dưỡng và khoa học thực phẩm và Khoa học dinh dưỡng và ẩm thực nay cùng mang tên Dinh dưỡng. Phẫu thuật hàm mặt và Chỉnh hình răng mặt nay được quy về Răng - Hàm - Mặt.

Bốn ngành Vật lý trị liệu, Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu và Dụng cụ chỉnh hình chân tay giả nay được quy về Kỹ thuật Phục hồi chức năng ở trình độ đại học.

Trong Quản lý y tế, Quản lý bệnh viện và Tổ chức và Quản lý y tế nay được quy về Quản lý y tế.

Ở lĩnh vực Du lịch, các ngành Du lịch văn hóa, Du lịch điện tử, Quản trị du lịch và khách sạn, Du lịch địa chất và Du lịch sinh thái nay được quy về Du lịch.

Các ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành và Quản trị du lịch và khách sạn nay được quy về Quản trị khách sạn. Ngành Quản trị khách sạn nhà hàng và dịch vụ ăn uống được đổi thành Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống.

Trong lĩnh vực Môi trường và bảo vệ môi trường, các ngành Quản lý biển đảo và đới bờ, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Quản lý tài nguyên khoáng sản, Quản lý tài nguyên nước và Quản lý biển nay được quy về ngành Quản lý tài nguyên và môi trường.

Xem chi tiết Thông tư TẠI ĐÂY.

Các cơ sở đào tạo sẽ phải sử dụng Danh mục ngành mới đối với các khóa tuyển sinh từ ngày 1/1/2027 theo quy định của Thông tư 74/2026/TT-BGDĐT.

Doãn Nhàn