Sắp xếp mạng lưới cơ sở GDĐH, GDNN công lập: Căn cứ nào để xác định lĩnh vực đặc thù?

24/09/2026 06:53
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Trong quá trình triển khai chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, việc xác định cơ sở thuộc “lĩnh vực đặc thù” là một nội dung có liên quan trực tiếp đến phương án quản lý, chuyển giao hoặc tổ chức lại.

Yêu cầu tinh gọn đầu mối

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII yêu cầu: “Chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập có tính chất cung cấp dịch vụ sự nghiệp công của bộ, ngành về chính quyền địa phương quản lý; bộ chỉ thực hiện chủ quản đối với các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ và những đơn vị trọng điểm, chuyên sâu”.

Đến năm 2026, yêu cầu sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập tiếp tục được đặt ra trong Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị về thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Nội dung này cũng được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 221/NQ-CP ngày 09/8/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Theo đó, đối với cơ sở giáo dục đại học công lập, yêu cầu đặt ra là: “Chuyển cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý, sáp nhập, hợp nhất cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ các cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực đặc thù”.

Đồng thời, phải “giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập (hoàn thành trước ngày 01/4/2027)”.

Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và thường xuyên, Nghị quyết số 221/NQ-CP nêu hướng sắp xếp: “Chuyển cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập trực thuộc bộ, ngành về địa phương quản lý, trừ một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc lĩnh vực đặc thù”.

Cùng với đó là yêu cầu “giảm tối thiểu 30% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập (hoàn thành trước ngày 01/10/2026)”.

Như vậy, trong quá trình triển khai chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, việc xác định cơ sở thuộc “lĩnh vực đặc thù” là một nội dung có liên quan trực tiếp đến phương án quản lý, chuyển giao hoặc tổ chức lại.

Khái niệm “đặc thù” trong giáo dục đại học được quy định ra sao?

Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội
Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội

Theo tìm hiểu của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam từ việc rà soát các quy định pháp luật hiện hành, khái niệm “đặc thù” trong giáo dục đại học được thể hiện ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật.

Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 quy định tại điểm d khoản 2 Điều 8: “Chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù cấp văn bằng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”.

Tại điểm b khoản 3 Điều 22, Luật quy định Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm: “chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng thực hiện chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, quốc phòng và an ninh”.

Các quy định này cho thấy pháp luật giáo dục đại học đã xác định một số nhóm lĩnh vực cần có quy định riêng về chương trình đào tạo và điều kiện bảo đảm chất lượng, gồm sức khỏe, pháp luật, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, quốc phòng và an ninh.

Một căn cứ khác là Chuẩn cơ sở giáo dục đại học ban hành kèm theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT. Văn bản này sử dụng khái niệm “trường đào tạo ngành đặc thù” và xác định: “Trường đào tạo ngành đặc thù là trường đại học, học viện đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật, nhóm ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài, nhóm ngành thể dục, thể thao với quy mô đào tạo các ngành này chiếm ít nhất 70% tổng quy mô đào tạo toàn trường”.

Quy định này đưa ra một tiêu chí định lượng đối với việc xác định trường đào tạo ngành đặc thù, khác với việc chỉ xác định một ngành hoặc lĩnh vực đào tạo là đặc thù.

Giáo dục nghề nghiệp đã có danh mục ngành, nghề đặc thù

Đối với giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 có những quy định trực tiếp về ngành, nghề đặc thù.

Tại điểm b khoản 3 Điều 7, Luật quy định: “Cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo ngành hoặc nhóm ngành đặc thù trong lĩnh vực nghệ thuật, thể thao ở trình độ đại học thực hiện chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp, chương trình giáo dục trung học nghề cùng ngành hoặc nhóm ngành”.

Khoản 3 Điều 17 quy định: “Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chuẩn chương trình đào tạo; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chuẩn chương trình đào tạo; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành chuẩn chương trình đào tạo đối với các ngành, nghề đặc thù”.

Đáng chú ý, khoản 3 Điều 18 quy định: “Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh; danh mục các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh”.

Trong khi đó, khoản 4 Điều 18 quy định: “Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp; danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao; danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu;…”

Như vậy, pháp luật hiện hành phân định thẩm quyền ban hành danh mục ngành, nghề đặc thù giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo từng lĩnh vực.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành danh mục ngành, nghề đặc thù

Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 29/4/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT về Danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao. Thông tư có hiệu lực từ ngày 29/4/2026.

Theo Thông tư, danh mục được ban hành kèm theo văn bản, đồng thời có phụ lục quy định nguyên tắc gắn mã và tiêu chí xác định ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao.

Văn bản giải thích, danh mục ngành, nghề đào tạo đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật là tập hợp các ngành, nghề đào tạo có tính chất khác biệt so với các ngành, nghề đào tạo thông thường, gắn với hoạt động sáng tác, chuyển thể, biểu diễn trong các lĩnh vực mỹ thuật, nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật nghe nhìn; đòi hỏi người học có năng khiếu, tố chất sáng tạo, cảm thụ và biểu đạt nghệ thuật; quá trình đào tạo chuyên sâu, điều kiện tổ chức đào tạo đặc thù và phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập riêng biệt.

Đối với lĩnh vực thể thao, danh mục được xác định trên cơ sở những ngành, nghề có tính chất khác biệt so với các ngành, nghề đào tạo thông thường, gắn với hoạt động huấn luyện, thi đấu, tổ chức và quản lý thể dục, thể thao; đòi hỏi người học có năng khiếu, thể chất và tố chất vận động đặc thù; quá trình đào tạo chuyên sâu, cường độ cao, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dụng và phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập, thi đấu riêng biệt.

Thông tư 37/2026/TT-BGDĐT cũng quy định các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào danh mục ngành, nghề trong giáo dục nghề nghiệp; các nguyên tắc và tiêu chí tại Phụ lục của Thông tư; nhu cầu sử dụng nhân lực; thực tiễn tổ chức đào tạo và những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để rà soát, đánh giá danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao và đề xuất việc bổ sung, điều chỉnh danh mục gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng hợp, xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

Một căn cứ khác liên quan đến giáo dục đại học là quy định về văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu tại Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Theo quy định được dẫn tại văn bản này: “Văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu bao gồm: bằng kỹ sư, bằng kiến trúc sư đối với các ngành kỹ thuật; bằng bác sĩ, bằng dược sĩ đối với lĩnh vực sức khỏe; một số văn bằng khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp cho người tốt nghiệp chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù”.

Từ các quy định trên, cho thấy các văn bản pháp luật hiện hành đang sử dụng những cách xác định khác nhau như lĩnh vực đặc thù, ngành đặc thù, ngành, nghề đặc thù, trường đào tạo ngành đặc thù. Mỗi quy định gắn với một nội dung quản lý cụ thể, trong đó có chương trình đào tạo, điều kiện bảo đảm chất lượng, văn bằng và danh mục ngành, nghề.

Doãn Nhàn