Bắt tay thành lập trung tâm đào tạo: Làm gì để hài hòa quyền lợi của trường nghề và doanh nghiệp?

25/09/2026 06:22
Mạnh Dũng
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện trường nghề, để triển khai hiệu quả mô hình liên kết thành lập khoa/trung tâm/đơn vị đào tạo chuyên môn, nguyên tắc quản trị phải thực hiện theo hướng: “rõ nguồn lực – rõ quyền hạn – rõ trách nhiệm – rõ kết quả – rõ trách nhiệm cuối cùng”.

Một nội dung mới đáng chú ý tại Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về hợp tác, liên kết đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp (Thông tư 72) là cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể liên kết với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức giáo dục, doanh nghiệp trong nước để thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn.

Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đây là tín hiệu tích cực tạo hành lang pháp lý để nhà trường chuyển từ “hợp tác với doanh nghiệp” sang “cùng doanh nghiệp tổ chức đào tạo”.

Rút ngắn khoảng cách giữa chuẩn đào tạo và chuẩn nghề nghiệp

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trần Văn Thực - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh (phường Võ Cường, Bắc Ninh) cho rằng, mô hình liên kết này sẽ cho phép các trường khắc phục điểm nghẽn về hạ tầng, thiết bị thực hành thông qua việc bắt tay với các doanh nghiệp và tổ chức giáo dục. Từ đó, giúp người học tiếp cận công nghệ hiện đại mà không đòi hỏi nguồn đầu tư dàn trải từ ngân sách nhà nước.

Cùng với đó, việc thành lập các đơn vị chuyên môn phối hợp trực tiếp giúp chương trình đào tạo bám sát thực tiễn sản xuất, giải quyết hiệu quả bài toán cung - cầu nhân lực cho nền kinh tế. Hơn nữa, mô hình này tạo động lực mạnh mẽ để cơ sở giáo dục nghề nghiệp đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp người học sau khi tốt nghiệp có tay nghề vững vàng, đáp ứng ngay yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Ngoài ra, về cơ sở vật chất, việc hợp tác giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tối ưu hóa chi phí, giảm gánh nặng đầu tư cho các thiết bị đắt tiền nhờ được dùng chung máy móc, xưởng thực hành và công nghệ hiện đại từ doanh nghiệp; đồng thời huy động được đội ngũ chuyên gia, thợ lành nghề tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo.

Về khía cạnh chuyên môn, mô hình liên kết trên nếu được triển khai hiệu quả sẽ giúp nội dung giảng dạy luôn được cập nhật sát với công nghệ mới và nhu cầu tuyển dụng thực tế. Đây cũng là môi trường thuận lợi để đội ngũ giảng viên tại các trường nghề nâng cao năng lực, bồi dưỡng kỹ năng nghề thực tiễn, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ ngay tại đơn vị đào tạo.

Thạc sĩ Trần Văn Thực - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh. Ảnh: NVCC

Thạc sĩ Trần Văn Thực - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh. Ảnh: NVCC

Cùng chia sẻ về nội dung này, Thạc sĩ, Dược sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thị Thanh Nhài - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương (phường Lê Thanh Nghị, Hải Phòng) khẳng định, mô hình liên kết trên là một bước tiến quan trọng, bởi Thông tư 72 đã mở rộng không gian để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chuyển từ “hợp tác với doanh nghiệp” sang “cùng doanh nghiệp tổ chức đào tạo”.

Đối với Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương, giá trị lớn nhất là huy động được nguồn lực xã hội và đưa thực tiễn nghề nghiệp vào sâu hơn trong nhà trường. Doanh nghiệp có công nghệ, thiết bị, chuyên gia và môi trường sản xuất; nhà trường có năng lực sư phạm, chương trình, đội ngũ nhà giáo và hệ thống quản lý đào tạo. Khi hai nguồn lực này được tích hợp, có thể hình thành những đơn vị đào tạo chuyên sâu về kiểm nghiệm, sản xuất dược phẩm, dược liệu, thực hành nhà thuốc, công nghệ số trong lĩnh vực Dược… thay vì nhà trường phải tự đầu tư toàn bộ.

Quan trọng hơn, mô hình này giúp rút ngắn khoảng cách giữa chuẩn đào tạo và chuẩn nghề nghiệp. Người học được tiếp cận công nghệ thực tế, quy trình thực tế và yêu cầu thực tế của doanh nghiệp ngay trong quá trình học.

Cô Nhài cũng cho rằng, tinh thần cốt lõi trong việc triển khai mô hình liên kết trên là việc nhà trường giữ vai trò kiến tạo chuẩn đào tạo. Trong khi đó, doanh nghiệp đưa thực tiễn sản xuất, công nghệ và nhu cầu nhân lực vào chương trình và người học là trung tâm thụ hưởng.

Ngoài ra, việc liên kết không làm phát sinh pháp nhân mới cũng tạo thuận lợi về quản trị, bởi nhà trường vẫn giữ được đầu mối tổ chức, quản lý và chịu trách nhiệm theo pháp luật.

img-9409.jpg
Thạc sĩ, Dược sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thị Thanh Nhài - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương. Ảnh website nhà trường

Giải pháp để các bên cùng tạo ra giá trị đào tạo và tránh rủi ro phát sinh khi triển khai mô hình liên kết

Một vấn đề khác được lãnh đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chỉ ra là cơ chế phân chia tài sản, bản quyền, sản phẩm nghiên cứu được hình thành trong quá trình liên kết với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức giáo dục, doanh nghiệp trong nước để thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn.

Về vấn đề này, theo Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Trí Khải - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kon Tum (phường Đăk Cấm, Quảng Ngãi), để triển khai hiệu quả mô hình liên kết này, những nội dung có khả năng phát sinh tranh chấp cần được quy định rõ ngay từ đầu trong văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các đơn vị đối tác. Đồng thời, phải có cơ chế giám sát để phát hiện và phòng ngừa rủi ro.

Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Trí Khải - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kon Tum. Ảnh: NVCC.

Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Trí Khải - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kon Tum. Ảnh: NVCC.

Cụ thể, việc hợp tác trong liên kết đào tạo phải được làm rõ bằng văn bản trước khi triển khai. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập phải tuân thủ pháp luật về tổ chức bộ máy, cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định pháp luật có liên quan. Văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng liên kết không thể thay thế quyết định thành lập.

Về tài chính, tài sản công, việc liên kết phải tuân thủ pháp luật về tài chính, quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan. Văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng cần xác định rõ trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản, cơ sở vật chất, việc đóng góp nguồn lực và xử lý tài sản khi chấm dứt liên kết.

Về sở hữu trí tuệ, ngoài việc tuân thủ pháp luật có liên quan theo điểm b, khoản 1, Điều 13 của Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT, văn bản liên kết cần quy định rõ tài sản trí tuệ có trước và tài sản phát sinh; chủ sở hữu, quyền sử dụng, phạm vi khai thác, chuyển giao, bảo mật, phân chia lợi ích và cách xử lý khi chấm dứt liên kết đối với chương trình đào tạo, giáo trình, học liệu, dữ liệu, sản phẩm nghiên cứu và công nghệ.

Thầy Khải cũng cho rằng, Thông tư số 72 đã mở ra hành lang pháp lý cho mô hình liên kết để thành lập khoa, trung tâm, đơn vị đào tạo chuyên môn. Vấn đề đặt ra là việc tổ chức thực hiện hiệu quả, tránh tình trạng quy định có nhưng khó triển khai. Do đó, thầy Khải đưa ra một số kiến nghị:

Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong phạm vi thẩm quyền và phối hợp với các bộ, ngành liên quan, nên hướng dẫn hoặc làm rõ việc tổ chức thực hiện đối với các nguồn lực phi tài chính. Đặc biệt, cần có cách thức xác định, ghi nhận và quản lý minh bạch giá trị đóng góp của đối tác bằng quyền sử dụng công nghệ, học liệu, tài sản trí tuệ, dữ liệu, thương hiệu và thời gian làm việc của chuyên gia, phù hợp với pháp luật chuyên ngành.

Đối với ủy ban nhân dân tỉnh cần chỉ đạo các sở, ngành liên quan hướng dẫn, phối hợp xử lý kịp thời các thủ tục thuộc thẩm quyền về tổ chức bộ máy, cơ chế tự chủ, tài chính và quản lý, sử dụng tài sản công khi cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập triển khai liên kết; trường hợp pháp luật yêu cầu phải lập đề án hoặc xin quyết định của cấp có thẩm quyền thì cần hướng dẫn rõ hồ sơ, trình tự và đầu mối xử lý, bảo đảm đúng quy định và hạn chế thủ tục kéo dài không cần thiết.

Ngoài ra, các địa phương trong phạm vi thẩm quyền và theo quy định của pháp luật, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư, chia sẻ nguồn lực với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; đồng thời gắn hoạt động liên kết đào tạo với kế hoạch phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu sử dụng lao động của địa phương.

z7875037011519-b974f2a86a5e436c38987597691e3269.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng Kon Tum thực hành nghề nghiệp. Ảnh: NVCC.

Còn theo Thạc sĩ Trần Văn Thực, để mô hình liên kết đi vào thực chất và kiểm soát tốt rủi ro, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tuân thủ các nguyên tắc quản lý chặt chẽ bằng văn bản hợp tác giữa nhà trường với bên tham gia liên kết. Trong đó, mọi hoạt động sử dụng, khai thác tài sản công phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật hiện hành, có thỏa thuận hạch toán thu - chi rõ ràng, độc lập và minh bạch để tránh thất thoát, lãng phí.

Về quyền sở hữu trí tuệ, cần có thỏa thuận bằng văn bản ngay từ đầu về quyền sở hữu, quyền khai thác các chương trình đào tạo, tài liệu chuyên sâu hoặc các sản phẩm nghiên cứu khoa học hình thành từ quá trình hợp tác.

Mặt khác, việc đồng quản lý và giám sát chất lượng cũng cần được lưu ý. Nhà trường cần giữ vai trò chủ trì trong việc thẩm định chương trình, chuẩn đầu ra, trong khi đối tác/doanh nghiệp đồng hành trong đánh giá kỹ năng thực hành, đảm bảo chất lượng đào tạo toàn diện.

Để tháo gỡ vướng mắc và thúc đẩy các mô hình liên kết phát huy hiệu quả tối đa trên thực tế, theo thầy Thực, cơ quan quản lý nhà nước cần sớm có các văn bản hướng dẫn cụ thể, đồng bộ về cơ chế sử dụng tài sản công, đất đai, cơ sở vật chất trong các hình thức liên kết không hình thành pháp nhân mới, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các trường yên tâm triển khai.

Cùng với đó, việc hoàn thiện chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp cũng nên được chú trọng. Cụ thể, cần có các cơ chế khuyến khích, ưu đãi về thuế hoặc hỗ trợ nguồn lực cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư sâu vào giáo dục nghề nghiệp, từ đó tạo động lực gắn kết lâu dài, bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Hơn nữa, nên tăng cường chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, thường xuyên tổ chức các diễn đàn, hội thảo tổng kết để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình liên kết thành công.

anh1.jpg
Giờ học tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh. Ảnh: website trường.

Trong khi đó, cô Nguyễn Thị Thanh Nhài nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả mô hình liên kết trên, nguyên tắc quản trị phải thực hiện theo hướng: “rõ nguồn lực – rõ quyền hạn – rõ trách nhiệm – rõ kết quả – rõ trách nhiệm cuối cùng”.

Trước khi liên kết, các bên phải lượng hóa bằng văn bản: ai đầu tư gì, giá trị bao nhiêu, sử dụng như thế nào, nguồn thu – chi ra sao, quyền sở hữu và khai thác kết quả thuộc về ai, xử lý tài sản thế nào khi kết thúc liên kết.

Đặc biệt với tài sản công, phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; không thể lấy danh nghĩa hợp tác đào tạo để làm mờ ranh giới giữa tài sản của Nhà nước và tài sản của đối tác.

Về chất lượng đào tạo, cô Nhài đưa ra lưu ý doanh nghiệp có thể tham gia rất sâu quá trình này, nhưng không được phân tán trách nhiệm về chất lượng. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn phải là đầu mối chịu trách nhiệm về chương trình, người học, tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp phát văn bằng, chứng chỉ theo quy định.

Nói cách khác, nhà trường và đối tác có thể đồng quản trị nguồn lực, nhưng phải có một đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng về chất lượng. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc của Thông tư 72 khi khẳng định liên kết không làm thay đổi trách nhiệm pháp lý của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Cô Nhài cũng nhấn mạnh, mô hình liên kết trên chỉ thành công khi thay đổi từ tư duy từ việc nhà trường và doanh nghiệp “ký thỏa thuận hợp tác” sang “cùng tạo ra giá trị đào tạo”.

Cụ thể, cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần lựa chọn đối tác dựa trên năng lực thực chất, không chạy theo số lượng. Doanh nghiệp phải có công nghệ, chuyên môn, thị trường và nhu cầu nhân lực thực sự; nhà trường phải có năng lực đào tạo và quản trị chất lượng tương ứng.

Cùng với đó, doanh nghiệp phải tham gia toàn bộ chuỗi đào tạo, từ dự báo nhu cầu nhân lực, xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình, tham gia đào tạo thực hành, đánh giá năng lực đến tiếp nhận thực tập và tuyển dụng.

Ngoài ra, mỗi mô hình liên kết phải có bộ chỉ số đánh giá hiệu quả, trong đó quan trọng nhất là chất lượng người học, mức độ đáp ứng của doanh nghiệp, tỷ lệ việc làm, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng đổi mới chương trình.

Mạnh Dũng