Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học, ĐH Huế: Đào tạo 50.000 nhân lực bán dẫn không thể chỉ đếm số lượng

28/08/2026 06:22
Thúy Hiền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Lãnh đạo nhà trường cho rằng hiệu quả đầu tư không chỉ được đo bằng tổng giá trị thiết bị hay phần mềm được trang bị, mà quan trọng hơn là mức độ khai thác và kết quả thực tế.

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực đang được Việt Nam xác định là một trong những trụ cột để thúc đẩy ngành công nghiệp bán dẫn. Theo mục tiêu đến năm 2030, cả nước phấn đấu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn, trong đó có ít nhất 42.000 kỹ sư, cử nhân; 7.500 học viên thạc sĩ và 500 nghiên cứu sinh; đồng thời chú trọng nhân lực cho các công đoạn thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử và các công đoạn khác của ngành công nghiệp bán dẫn.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, đội ngũ giảng viên, chuyên gia, học bổng và kinh phí đào tạo.

Trong 2 năm gần đây, nhiều trường đại học đã mở ngành, chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, đồng thời mở rộng quy mô tuyển sinh và tăng cường đầu tư cho lĩnh vực này. Với các cơ sở giáo dục đại học, kỳ vọng không chỉ nằm ở việc tăng số lượng nhân lực mà còn đào tạo đội ngũ có chuyên môn sâu, năng lực nghiên cứu, thiết kế và làm chủ công nghệ, qua đó đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành bán dẫn trong nước.

Đào tạo nhân lực bán dẫn cần đúng cơ cấu, đúng kỹ năng và đúng nhu cầu

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế cho biết, trước khi Nhà nước ban hành các chủ trương về phát triển nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn, nhà trường đã có nền tảng đào tạo ở nhiều lĩnh vực liên quan như Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật phần mềm và các ngành khoa học cơ bản như Vật lý, Khoa học vật liệu, Khoa học dữ liệu.

Năm 2025, nhà trường tuyển sinh hơn 600 sinh viên vào các chương trình đào tạo có nền tảng hoặc liên quan đến lĩnh vực vi mạch - bán dẫn như Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật phần mềm, Vật lý, Khoa học vật liệu và Khoa học dữ liệu). Do đó, số liệu năm 2025 chủ yếu phản ánh quy mô tuyển sinh của các chương trình có liên quan.

Năm 2026, nhà trường triển khai hai chương trình đào tạo trực tiếp là Thiết kế vi mạch (thuộc ngành Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông) và Công nghệ bán dẫn (thuộc ngành Vật lý học), với tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 65 sinh viên. Hiện nay, công tác tuyển sinh và nhập học năm 2026 vẫn đang được triển khai nên chưa có số liệu nhập học chính thức.

dbqh-vo-thanh-tung-tp-hue-phat-bieu.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Ảnh: NVCC.

“Ở giai đoạn hiện nay, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế không đặt nặng việc đánh giá tiến độ đào tạo ngành công nghiệp bán dẫn bằng số lượng sinh viên tuyển mới hay mức đóng góp vào mục tiêu nhân lực chung của cả nước. Ưu tiên của nhà trường là từng bước xây dựng năng lực đào tạo cốt lõi và bảo đảm chất lượng đầu ra.

Bởi đây là lĩnh vực công nghệ cao, đào tạo nhân lực bán dẫn đòi hỏi đội ngũ giảng viên có chuyên môn sâu, hệ thống phòng thí nghiệm, phần mềm chuyên dụng, môi trường thực hành phù hợp và chuẩn đầu ra đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Do đó, việc đào tạo lĩnh vực này cần được phát triển theo hướng có trọng tâm, chú trọng chất lượng thay vì chạy theo số lượng.

Mục tiêu 50.000 nhân lực là mục tiêu quốc gia vô cùng quan trọng. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu này, tôi cho rằng cần đặc biệt quan tâm đến cơ cấu nhân lực, chất lượng đào tạo và khả năng hấp thụ của thị trường lao động. Nếu chỉ tập trung tăng nhanh số lượng mà năng lực đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp chưa theo kịp thì có thể dẫn đến tình trạng thừa về số lượng nhưng lại thiếu nhân lực đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Vì vậy, định hướng của nhà trường là phát triển quy mô phù hợp với năng lực, tập trung nâng cao chất lượng thực chất, tăng thời lượng thực hành, từng bước đưa sinh viên tiếp cận các công cụ, quy trình và bài toán gần với môi trường công nghiệp”, thầy Tùng cho hay.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Thanh Tùng, thông qua quá trình hợp tác, trao đổi với doanh nghiệp, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế nhận thấy nhu cầu nhân lực đang hiện diện ở nhiều vị trí trong chuỗi giá trị bán dẫn. Tuy nhiên, nhà trường chưa thể đưa ra dự báo cụ thể về quy mô tuyển dụng trong 3-5 năm tới khi chưa có khảo sát độc lập hoặc cam kết tuyển dụng chính thức đủ cơ sở.

Nhu cầu nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn trong trung và dài hạn được dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh, song có thể phân hóa theo từng công đoạn và phụ thuộc vào tốc độ phát triển của hệ sinh thái bán dẫn tại Việt Nam. Đặc biệt, nhu cầu nhân lực không chỉ tập trung ở lĩnh vực thiết kế vi mạch mà còn trải rộng từ vật liệu, thiết bị, sản xuất, đóng gói, kiểm thử đến quản lý chất lượng, tự động hóa, phần mềm và các lĩnh vực khoa học - công nghệ liên quan.

dh-khoa-hoc-hue2.jpg
Sinh viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế trong giờ thực hành. Ảnh: website nhà trường.

Theo Chương trình "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050", trong giai đoạn 2024-2030, Việt Nam đặt mục tiêu hình thành ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế, 1 nhà máy chế tạo chip bán dẫn quy mô nhỏ và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử sản phẩm bán dẫn. Đây là những tiền đề quan trọng tạo nhu cầu nhân lực trong trung và dài hạn.

Tuy nhiên, lãnh đạo Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế cũng bày tỏ sự lo ngại về khả năng thị trường hấp thụ nhân lực nếu tốc độ mở ngành cùng số lượng quy mô đào tạo diễn ra nhanh hơn tốc độ phát triển của doanh nghiệp và hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn.

“Qua trao đổi và hợp tác với doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy vấn đề quan trọng không chỉ là đào tạo bao nhiêu người, mà phải đào tạo đúng cơ cấu, đúng kỹ năng và đúng nhu cầu. Vì vậy, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế xác định sẽ phát triển đào tạo theo hướng có chọn lọc, chú trọng thực hành, tăng thời lượng sinh viên tiếp cận các công cụ EDA và bài toán thực tế. Đồng thời, nhà trường sẽ tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo, thực tập và đánh giá năng lực người học; chương trình học cũng cần được cập nhật thường xuyên theo sự thay đổi của công nghệ và nhu cầu thị trường.

Theo tôi, mục tiêu về số lượng nhân lực là cần thiết để hình thành quy mô cho một ngành công nghiệp mới. Tuy nhiên, đối với ngành công nghiệp bán dẫn, chất lượng và khả năng làm việc thực tế của người học sau khi tốt nghiệp mới là yếu tố quyết định tính bền vững của quá trình phát triển nguồn nhân lực.

Vì vậy, điều nhà trường quan tâm là sinh viên sau khi tốt nghiệp có làm được việc, có được doanh nghiệp tuyển dụng và có khả năng tiếp tục thích ứng với sự thay đổi rất nhanh của ngành công nghiệp bán dẫn hay không”, Phó Giáo sư Võ Thanh Tùng cho hay.

Tránh dàn trải, đặt trọng tâm vào hiệu quả đầu tư hạ tầng bán dẫn

Để đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, bài toán đặt ra không chỉ nằm ở chương trình và đội ngũ giảng viên mà còn ở năng lực đầu tư hạ tầng. Đây là lĩnh vực có chi phí đào tạo, thực hành và nghiên cứu cao, trong khi công nghệ liên tục thay đổi, đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải có hệ thống thiết bị, phần mềm và môi trường thực hành phù hợp.

Theo Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, việc đầu tư hạ tầng được nhà trường xác định là một trong những điều kiện quan trọng để từng bước xây dựng năng lực đào tạo và nghiên cứu vi mạch bán dẫn.

“Tại Đại học Huế, dự án Phòng thí nghiệm Vi mạch - Bán dẫn với tổng kinh phí dự kiến hơn 100 tỷ đồng đang được triển khai các thủ tục theo quy định. Dự án định hướng đầu tư các hệ thống phục vụ thiết kế vi mạch, FPGA-SoC, đo kiểm và nghiên cứu vật liệu bán dẫn. Tuy nhiên, với các dự án đầu tư công quy mô lớn, quá trình triển khai mất khá nhiều thời gian do phải tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định. Do đó, một số nguồn lực hiện vẫn đang ở giai đoạn chuẩn bị, chưa được giải ngân hoặc đưa vào vận hành thực tế.

Bên cạnh nguồn lực đầu tư từ Nhà nước, nhà trường cũng huy động các nguồn lực hợp pháp khác thông qua hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức và đối tác quốc tế. Một số hạng mục, dự án liên quan cũng đang được dự kiến đầu tư.

Trong năm 2026, nhà trường phối hợp triển khai chương trình đào tạo ngắn hạn về Thiết kế vật lý vi mạch do Hội Hữu nghị Pháp - Việt (AAFV) tài trợ, với 29 học viên chính thức và 7 học viên dự thính. Chương trình không chỉ cung cấp kiến thức chuyên sâu mà còn góp phần nâng cao năng lực đội ngũ, từng bước hình thành môi trường đào tạo thực hành về thiết kế vi mạch.

Về phần mềm chuyên dụng, nhà trường đã tiếp nhận và đưa vào sử dụng một số bản quyền phần mềm thiết kế vi mạch thông qua chương trình hỗ trợ của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC). Các công cụ này đang từng bước được tích hợp vào hoạt động đào tạo, thực hành của sinh viên và giảng viên”, thầy Tùng cho hay.

dh-khoa-hoc-hue1.jpg
Đầu tư cho hạ tầng là một trong những điều kiện quan trọng để từng bước xây dựng năng lực đào tạo và nghiên cứu vi mạch bán dẫn tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Ảnh: website nhà trường.

Theo quan điểm của lãnh đạo Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, hiệu quả đầu tư không chỉ đo bằng tổng giá trị thiết bị hay phần mềm được trang bị, mà quan trọng hơn là mức độ khai thác và những kết quả thực tế được tạo ra từ nguồn lực đó.

Nhà trường dự kiến đánh giá hiệu quả thông qua các chỉ số như số lượt sinh viên được thực hành trên công cụ chuẩn công nghiệp; số giờ khai thác phòng máy, phòng thí nghiệm; số học phần chuyên sâu sử dụng hệ thống EDA; số đề tài, dự án nghiên cứu phối hợp với doanh nghiệp; các sản phẩm đào tạo, nghiên cứu được hình thành và về lâu dài là tỷ lệ sinh viên có việc làm phù hợp trong chuỗi giá trị bán dẫn sau tốt nghiệp.

Đặc biệt, mô hình Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp là hướng đi phù hợp để phát triển nhân lực bán dẫn. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách, đầu tư hạ tầng nền tảng và hạ tầng dùng chung; nhà trường tổ chức đào tạo, nghiên cứu, đảm bảo chất lượng; còn doanh nghiệp, tổ chức và đối tác quốc tế tham gia thông qua công nghệ, chuyên gia, phần mềm, bài toán thực tế, cơ hội thực tập và kết nối việc làm.

Từ thực tiễn triển khai, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Thanh Tùng cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bán dẫn được triển khai hiệu quả hơn.

Thứ nhất, cần có cơ chế chia sẻ và sử dụng chung hạ tầng đào tạo, nghiên cứu bán dẫn. Chi phí đầu tư thiết bị đo kiểm, phòng thí nghiệm và bản quyền các phần mềm thiết kế vi mạch EDA rất lớn. Vì vậy, thay vì đầu tư dàn trải để mỗi cơ sở tự xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh, cần hình thành các phòng thí nghiệm và hạ tầng trọng điểm dùng chung, có cơ chế để các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng khai thác. Cách làm này vừa nâng cao hiệu quả đầu tư công, vừa tạo điều kiện để nhiều cơ sở đào tạo và người học tiếp cận công nghệ hiện đại.

Thứ hai, đầu tư có trọng điểm và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong lĩnh vực bán dẫn, công nghệ thay đổi rất nhanh; nếu thời gian chuẩn bị đầu tư kéo dài thì khi thiết bị được đưa vào sử dụng có thể đã giảm tính cập nhật. Vì vậy, bên cạnh việc tuân thủ đầy đủ quy định về đầu tư công, cần có giải pháp phù hợp với đặc thù của lĩnh vực công nghệ cao.

Thứ ba, có chính sách đủ mạnh để phát triển đội ngũ giảng viên và thu hút chuyên gia. Nhà nước cần tiếp tục có cơ chế hỗ trợ giảng viên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu tại các quốc gia có ngành công nghiệp bán dẫn phát triển; đồng thời có cơ chế tài chính linh hoạt để thu hút chuyên gia từ doanh nghiệp, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia trực tiếp vào đào tạo, nghiên cứu.

Thứ tư, tăng cường mô hình hợp tác Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng và thẩm định chương trình, hỗ trợ công cụ và phần mềm, cung cấp bài toán thực tế, tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực tập và kết nối tuyển dụng. Đây là yếu tố rất quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực.

Thúy Hiền