Cùng một mức IELTS nhưng mỗi trường cộng một kiểu: Kiến nghị có thang điểm chung

29/09/2026 06:22
ĐÀO HIỀN
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Dự kiến không cộng điểm đối với chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh đại học từ năm 2027 được kỳ vọng góp phần tạo mặt bằng xét tuyển thống nhất, hạn chế lợi thế khác nhau giữa các thí sinh.

Theo dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển sinh và đào tạo đại học, từ năm 2027, thí sinh sẽ không còn được cộng tối đa 3 điểm đối với chứng chỉ IELTS hay giải học sinh giỏi khi xét tuyển đại học.

Quy định dự kiến này đang nhận được sự quan tâm của thí sinh, phụ huynh và các cơ sở giáo dục đại học, bởi việc thay đổi cơ chế điểm cộng có thể tác động trực tiếp đến cách thí sinh sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ và thành tích học tập trong xét tuyển. Đồng thời, điều chỉnh này cũng đặt ra câu hỏi về việc đánh giá năng lực thí sinh khi chứng chỉ, thành tích không còn được sử dụng để cộng thêm điểm vào kết quả xét tuyển.

Hướng đến năng lực ngoại ngữ thực chất, thay vì chạy theo chứng chỉ

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng - Phó Trưởng phòng điều hành Phòng Đào tạo, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, không thể phủ nhận chủ trương khuyến khích học ngoại ngữ, đặc biệt là định hướng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Trên thực tế, năng lực ngoại ngữ tốt không chỉ hỗ trợ người học trong quá trình học tập mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, nâng cao khả năng hội nhập trong tương lai.

Tuy nhiên, khi đặt trong bối cảnh tuyển sinh đại học, theo thầy Tùng, cần đặc biệt quan tâm đến yếu tố công bằng trong giáo dục. Thực tế điều kiện học tập và khả năng tiếp cận các chương trình đào tạo ngoại ngữ giữa các vùng miền vẫn còn sự khác biệt. Học sinh ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể gặp nhiều hạn chế hơn so với học sinh ở các đô thị về điều kiện kinh tế gia đình, môi trường học tập và cơ hội tiếp cận các chương trình luyện thi chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế.

“Chẳng hạn, nếu sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế như IELTS trong tuyển sinh, rõ ràng những thí sinh có điều kiện kinh tế và môi trường học tập thuận lợi sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận chứng chỉ hơn. Vì vậy, khi tổ chức tuyển sinh trên phạm vi toàn quốc, cần tính đến yếu tố công bằng giữa các nhóm thí sinh”, thầy Tùng phân tích.

Từ góc độ này, thầy Tùng cho rằng đề xuất không tiếp tục cộng điểm đối với chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế trong tuyển sinh đại học từ năm 2027 là phù hợp và hợp lý, nhất là trong bối cảnh các trường đang hướng tới việc chuẩn hóa và thống nhất hơn các tiêu chí xét tuyển.

Theo thầy, đối với những cơ sở giáo dục đại học chuyên đào tạo ngoại ngữ, việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ để đánh giá năng lực hoặc tuyển thẳng thí sinh có chứng chỉ phù hợp với đặc thù ngành đào tạo. Bởi trong trường hợp này, năng lực ngoại ngữ là một trong những yêu cầu cốt lõi đối với người học.

Tuy nhiên, với những trường không đào tạo chuyên sâu về ngoại ngữ, nếu tiếp tục sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ để cộng điểm thì vấn đề công bằng trong tuyển sinh cần được xem xét kỹ hơn.

Một vấn đề khác được thầy Tùng lưu ý là cách quy đổi và cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ giữa các trường hiện chưa hoàn toàn thống nhất. Cùng một chứng chỉ nhưng mỗi cơ sở đào tạo có thể xây dựng cách quy đổi, mức điểm cộng khác nhau, từ đó tạo ra sự khác biệt trong kết quả xét tuyển.

“Nếu nhìn trên phạm vi toàn hệ thống, việc không cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ sẽ góp phần tạo sự thống nhất và minh bạch hơn trong tuyển sinh”, Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng nhận định.

Cùng bàn luận về vấn đề này, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế cho rằng, không thể phủ nhận giá trị của các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế trong việc cung cấp căn cứ đánh giá năng lực ngoại ngữ của người học. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay nằm ở cách các cơ sở đào tạo sử dụng chứng chỉ này trong tuyển sinh, đặc biệt là sự khác nhau về mức điểm cộng giữa các trường.

Theo thầy Huy, việc mỗi cơ sở đào tạo quy định một mức điểm cộng khác nhau cho cùng một loại chứng chỉ có thể khiến phương thức tuyển sinh trở nên phức tạp hơn, đồng thời tạo ra sự thiếu thống nhất trong cách đánh giá thí sinh.

Ở góc độ một trường đại học chuyên đào tạo ngoại ngữ, thầy Huy cho rằng IELTS vẫn có thể được xem là một trong những căn cứ quan trọng để nhà trường lựa chọn những thí sinh có năng lực ngoại ngữ tốt. Bởi đặc thù của các trường chuyên ngữ là đào tạo sinh viên trong lĩnh vực ngoại ngữ, do đó năng lực này có vai trò trực tiếp đối với quá trình học tập và đào tạo.

Tuy nhiên, với những ngành đào tạo không chuyên sâu về ngoại ngữ, cần có cách tiếp cận thống nhất và phù hợp hơn. Thí sinh hoàn toàn có thể chủ động thi IELTS để nâng cao năng lực ngoại ngữ, nhưng không nhất thiết chứng chỉ này phải trở thành căn cứ để cộng điểm khi xét tuyển vào những ngành mà tiếng Anh không phải năng lực cốt lõi phục vụ trực tiếp cho quá trình học tập, nghiên cứu.

Trước lo ngại cho rằng nếu không ưu tiên chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh thì sẽ khó khuyến khích học sinh học tiếng Anh, qua đó ảnh hưởng đến mục tiêu hội nhập quốc tế và đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, thầy Huy cho rằng cần phân biệt giữa việc khuyến khích học ngoại ngữ với việc khuyến khích sở hữu một chứng chỉ.

Theo thầy, mục tiêu quan trọng nhất vẫn là hình thành năng lực ngoại ngữ thực chất ở người học, thay vì tạo động lực học chỉ để đạt chứng chỉ phục vụ xét tuyển đại học.

“Các em học ngoại ngữ tốt, có năng lực sử dụng ngoại ngữ thực chất mới là điều quan trọng, chứ không nhất thiết phải gắn việc học với IELTS. Thực tế có những trường hợp sau khi thi IELTS xong thì không tiếp tục học và sử dụng ngoại ngữ thường xuyên. Về lâu dài, điều này không tốt cho năng lực ngôn ngữ, bởi ngoại ngữ cần được rèn luyện và sử dụng liên tục”, thầy Huy phân tích.

Từ góc độ này, thầy Huy cho rằng việc điều chỉnh cách sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh là cần thiết. Thay vì quá chú trọng vào việc cộng điểm cho chứng chỉ, chính sách tuyển sinh cần hướng đến việc khuyến khích người học phát triển năng lực ngoại ngữ thực chất và sử dụng ngoại ngữ như một công cụ phục vụ học tập, nghiên cứu, công việc và hội nhập.

487935921-1065816055565209-3385611629113089799-n.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế. Ảnh: website nhà trường.

Không cộng điểm chứng chỉ không đồng nghĩa với việc giảm vai trò của ngoại ngữ

Một trong những vấn đề được đặt ra khi thay đổi cơ chế ghi nhận chứng chỉ ngoại ngữ là làm thế nào để vừa ghi nhận năng lực tiếng Anh của thí sinh, vừa bảo đảm sự công bằng và thống nhất trong xét tuyển.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Trương Tấn Quân - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế nhìn nhận, thời gian qua, việc sử dụng chứng chỉ IELTS để cộng điểm trong xét tuyển đã tạo thêm cơ hội cho những thí sinh có điều kiện học và thi chứng chỉ này. Tuy nhiên, cách thức các trường quy định mức điểm cộng chưa thống nhất, dẫn đến sự khác biệt về lợi thế xét tuyển giữa các thí sinh.

“Cùng một mức điểm IELTS nhưng có trường cộng 2 điểm, có trường cộng 3 điểm. Việc mỗi cơ sở đào tạo tự quy định mức điểm cộng theo quan điểm riêng có thể tạo ra sự khác biệt trong kết quả xét tuyển, từ đó đặt ra vấn đề về tính công bằng”, thầy Quân phân tích.

Theo thầy Quân, trong bối cảnh hội nhập, các ngành đào tạo đều ít nhiều có yêu cầu về năng lực tiếng Anh, nhưng mức độ yêu cầu không giống nhau. Có ngành yêu cầu năng lực ngoại ngữ ở mức B1, trong khi những ngành có nhu cầu sử dụng tiếng Anh cao hơn có thể đặt yêu cầu đầu ra ở mức B2 hoặc cao hơn.

Với những ngành có yêu cầu cao về năng lực tiếng Anh, nhà trường có thể đưa môn tiếng Anh vào tổ hợp xét tuyển. Khi đó, thí sinh có chứng chỉ IELTS vẫn có thể sử dụng kết quả này để quy đổi sang điểm môn tiếng Anh theo quy định.

Từ đó, thầy Quân cho rằng việc không tiếp tục cộng điểm đối với chứng chỉ ngoại ngữ trong xét tuyển đại học có thể góp phần bảo đảm công bằng và tạo sự thống nhất giữa các cơ sở đào tạo, ngành nghề và vùng miền. Cách tiếp cận này vẫn ghi nhận năng lực ngoại ngữ của thí sinh, nhưng hạn chế tình trạng một chứng chỉ vừa được sử dụng trong phương thức xét tuyển, vừa được cộng thêm điểm vào kết quả xét tuyển.

“Không cộng điểm không có nghĩa là không khuyến khích học IELTS. Nếu chứng chỉ vẫn được quy đổi sang điểm môn tiếng Anh, thí sinh có chứng chỉ vẫn có cơ hội sử dụng kết quả của mình trong xét tuyển”, thầy Quân nói.

Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự bảo đảm công bằng, theo thầy Quân, cần có một khung quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ thống nhất giữa các cơ sở đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đưa ra quy chuẩn chuyển đổi điểm để các trường cùng thực hiện, qua đó hạn chế sự khác biệt do mỗi cơ sở tự xây dựng cách quy đổi.

Quan trọng là lợi thế từ chứng chỉ ngoại ngữ được xác định theo một nguyên tắc chung, minh bạch và áp dụng thống nhất, thay vì phụ thuộc vào mức điểm cộng của từng trường.

823242653-1417004440393985-4933978260764206498-n.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Trương Tấn Quân - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Ảnh: website nhà trường.

Đồng quan điểm, Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng cũng cho rằng, không cộng điểm chứng chỉ không đồng nghĩa với việc giảm vai trò của tiếng Anh trong giáo dục. Điều quan trọng hơn là chính sách cần hướng người học đến việc phát triển năng lực ngoại ngữ thực chất, thay vì coi chứng chỉ như một lợi thế để gia tăng cơ hội trúng tuyển đại học.

“Câu chuyện cần bàn là chúng ta định hướng để học sinh giỏi ngoại ngữ, có khả năng hội nhập tốt. Đây là câu chuyện dài hơi chứ không chỉ tính đến việc xét tuyển. Cần hướng đến việc học tiếng Anh không chỉ để thi mà trở thành công cụ phục vụ học tập, công việc và cuộc sống, chứ không phải học để được cộng điểm”, thầy Tùng chia sẻ.

Theo thầy Tùng, việc học ngoại ngữ cần được nhìn nhận như một năng lực sử dụng lâu dài, gắn với quá trình học tập, nghề nghiệp và hội nhập của người học. Nếu quá đặt nặng giá trị của chứng chỉ trong tuyển sinh, người học có thể dễ hình thành tâm lý học để đạt một mốc điểm phục vụ xét tuyển, thay vì duy trì việc học và sử dụng ngoại ngữ sau khi đã đạt chứng chỉ.

Từ góc độ tuyển sinh, thầy Tùng cho rằng cách đánh giá năng lực tiếng Anh cũng cần gắn với yêu cầu thực tế của từng ngành, từng chương trình đào tạo. Với những ngành có yêu cầu rõ ràng về năng lực ngoại ngữ đầu vào, tiếng Anh có thể được đưa trực tiếp vào phương thức đánh giá, thông qua môn thi, tổ hợp xét tuyển hoặc quy đổi chứng chỉ sang điểm môn tiếng Anh.

Ngược lại, với những ngành không yêu cầu năng lực tiếng Anh ở mức chuyên sâu, theo thầy Tùng, việc cộng thêm điểm từ chứng chỉ ngoại ngữ cần được cân nhắc, bởi lợi thế này không nhất thiết phản ánh trực tiếp năng lực mà ngành đào tạo cần ở thí sinh.

Do đó, thầy Tùng cho rằng việc điều chỉnh quy chế tuyển sinh là phù hợp với sự vận động của xã hội và yêu cầu mới của giáo dục. Mục tiêu không phải là phủ nhận giá trị của chứng chỉ ngoại ngữ, mà là xác định cách sử dụng chứng chỉ sao cho vừa ghi nhận năng lực của người học, vừa bảo đảm công bằng, minh bạch và phù hợp với yêu cầu đầu vào của từng ngành đào tạo.

Ở một góc độ khác, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy cho rằng, việc điều chỉnh chính sách tuyển sinh cần tính đến quá trình chuẩn bị lâu dài của học sinh và gia đình. Tuyển sinh đại học không chỉ là câu chuyện của một năm học mà liên quan đến quá trình học tập, đầu tư và định hướng của học sinh trong nhiều năm. Vì vậy, nếu có thay đổi về cách sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ trong xét tuyển, chính sách cần được công bố với lộ trình đủ dài để người học và phụ huynh có thời gian chuẩn bị.

Theo thầy Huy, nếu áp dụng ngay một thay đổi mà không có thời gian chuyển tiếp, những phụ huynh đã đầu tư thời gian, kinh phí cho con học và thi chứng chỉ theo cơ chế tuyển sinh trước đó có thể cảm thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng. Do đó, bên cạnh nội dung chính sách, thời điểm và lộ trình thực hiện cũng là vấn đề cần được cân nhắc.

Về bản chất của việc bỏ điểm cộng, thầy Huy cho rằng nếu chứng chỉ ngoại ngữ không được sử dụng để cộng thêm điểm ở những ngành không có yêu cầu thực chất về năng lực ngoại ngữ, điều này có thể góp phần đưa chứng chỉ trở về đúng vai trò đánh giá năng lực tiếng Anh.

“Thời gian qua, xã hội đôi khi quá chú trọng vào điểm số IELTS mà chưa quan tâm đầy đủ đến quá trình học tập và khả năng sử dụng ngoại ngữ thực tế phía sau chứng chỉ. Do đó, cần hạn chế những cách tiếp cận chưa thực sự có lợi cho việc học ngoại ngữ. Mục tiêu cuối cùng vẫn phải là giúp người học có năng lực tiếng Anh thực chất”, thầy Huy nêu quan điểm.

ĐÀO HIỀN