Khoa học học tập trong kỉ nguyên AI: Kiến tạo tương lai giáo dục với thông điệp 5C

22/10/2026 06:20
Bích Thủy
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục 2026 tập trung vào định hướng đổi mới giáo dục trong kỉ nguyên AI, từ khoa học nhận thức, công nghệ giáo dục đến đánh giá và quản trị giáo dục.

Trong lịch sử phát triển của mỗi nền giáo dục, có những thời điểm câu hỏi quan trọng không còn chỉ là dạy gì, học gì hay sử dụng công nghệ nào, mà là: Chúng ta cần xây dựng một nền giáo dục như thế nào để con người phát triển tốt hơn, xã hội tiến bộ bền vững hơn và tương lai được kiến tạo trên nền tảng tri thức?

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đưa giáo dục đến một thời điểm như vậy. Khi công nghệ có thể tạo ra thông tin, giải thích khái niệm và hỗ trợ giải quyết nhiều vấn đề vốn thuộc về con người, nhiệm vụ của khoa học giáo dục không chỉ là thích ứng, mà còn phải lí giải, định hướng và kiến tạo sự thay đổi. Bởi điều quyết định tương lai giáo dục không đơn thuần là công nghệ làm được gì, mà là con người học được gì, trưởng thành như thế nào và sử dụng tri thức để tạo ra những giá trị gì cho xã hội.

Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Kỉ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục năm 2026, với chủ đề “Đổi mới giáo dục trong kỉ nguyên AI: Góc nhìn từ khoa học nhận thức và công nghệ giáo dục”. Diễn ra ngày 25-26/9/2026 tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (UED), hội thảo quy tụ gần 300 đại biểu, với 222 bài tham luận được hoàn thiện, tuyển chọn đưa vào kỉ yếu và đăng Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục của UED sau quá trình rà soát, phản biện và chỉnh sửa.

thiet-ke-chua-co-ten-18.jpg
Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục năm 2026 gồm 222 bài tham luận được hoàn thiện, tuyển chọn.

Giá trị của ấn phẩm không chỉ nằm ở số lượng công trình được tập hợp, mà còn ở nỗ lực kết nối các hướng nghiên cứu thành một cách tiếp cận có hệ thống đối với tương lai giáo dục Việt Nam: lấy con người làm trung tâm, lấy bằng chứng khoa học làm nền tảng và lấy giá trị thực tiễn làm thước đo của tri thức.

Từ hiểu việc học đến đổi mới hệ thống giáo dục

Kỉ yếu được tổ chức thành ba phần chuyên môn, phản ánh một chu trình phát triển tri thức: hiểu quá trình học tập, thiết kế hoạt động giáo dục, rồi đánh giá và quản trị sự thay đổi.

02-1.jpg
GS.TS Huỳnh Văn Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh báo cáo chuyên đề về “Khoa học học tập và đổi mới dạy học trong môi trường số: từ khoa học nhận thức đến công nghệ giáo dục và cá nhân hóa học tập” tại Hội thảo.

Phần thứ nhất, Khoa học nhận thức và khoa học học tập trong kỉ nguyên AI, tập trung vào cơ chế học tập, năng lực tự học, tư duy phản biện, tải nhận thức, đạo đức AI và khả năng tự điều chỉnh của người học. Những nghiên cứu này đưa cuộc thảo luận về công nghệ trở lại câu hỏi nền tảng: AI giúp người học hiểu sâu hơn hay chỉ hoàn thành nhiệm vụ nhanh hơn? Một câu trả lời được tạo ra trong vài giây không đồng nghĩa với tri thức đã được lĩnh hội; một nhiệm vụ được giải quyết dễ dàng hơn cũng chưa chắc tạo nên năng lực bền vững hơn.

Phần thứ hai, Công nghệ giáo dục và đổi mới dạy học, đề cập đến AI trong thiết kế học liệu, trợ lí học tập, dạy học thích ứng, STEM/STEAM, mô phỏng số và phát triển năng lực số, năng lực AI. Thông điệp quan trọng là đổi mới không nằm ở việc đưa thêm công nghệ vào lớp học, mà ở khả năng tổ chức lại hoạt động dạy và học để tạo ra giá trị giáo dục tốt hơn. Công nghệ chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được đặt trong một thiết kế có cơ sở khoa học, gắn kết mục tiêu học tập, đặc điểm người học, phương pháp sư phạm và cơ chế đánh giá.

03.jpg
Các đại biểu nghe báo cáo tại Tiểu ban “Công nghệ giáo dục và đổi mới dạy học” của Hội thảo.

Phần thứ ba, Đánh giá giáo dục, dữ liệu học tập và quản trị giáo dục, đặt ra vấn đề làm thế nào để kiểm chứng hiệu quả đổi mới và đưa kết quả nghiên cứu vào các quyết định giáo dục. Dữ liệu có ý nghĩa khi được thu thập đúng cách, đo lường phù hợp, phân tích có trách nhiệm và diễn giải trong bối cảnh cụ thể. Quản trị dựa trên dữ liệu không phải thay thế phán đoán chuyên môn bằng những con số, mà giúp con người đưa ra quyết định tốt hơn trên cơ sở thông tin đáng tin cậy.

Ba phần nội dung kết nối thành một logic học thuật nhất quán: hiểu đúng việc học, thiết kế tốt hoạt động giáo dục và kiểm chứng nghiêm túc hiệu quả đổi mới. Đây là nền tảng để kết nối nghiên cứu với thực tiễn, đổi mới lớp học với cải tiến hệ thống và tri thức khoa học với hoạch định chính sách.

Những định hướng cho tương lai khoa học giáo dục Việt Nam

Trước hết, con người phải là chủ thể và mục tiêu của đổi mới; công nghệ là phương tiện phục vụ sự phát triển của con người. AI mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức nhưng cũng đặt ra thách thức về tư duy độc lập, tính trung thực học thuật, công bằng và quyền riêng tư. Vì vậy, giá trị của công nghệ phải được đánh giá qua tác động đối với năng lực, phẩm chất và sự trưởng thành của người học.

Thứ hai, khoa học giáo dục cần phát triển dựa trên bằng chứng đáng tin cậy. Những mô hình và giải pháp mới phải được kiểm chứng bằng thiết kế nghiên cứu phù hợp, công cụ đo lường có độ tin cậy và dữ liệu có chất lượng. Chỉ khi kết quả có thể được kiểm chứng, so sánh và tích lũy, nghiên cứu mới góp phần hình thành tri thức chung và tạo căn cứ vững chắc cho việc nhân rộng.

Thứ ba, khoa học giáo dục phải được phát triển theo hướng liên ngành, với sự hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu, trường phổ thông, cơ quan quản lí, địa phương và doanh nghiệp. Những thách thức của giáo dục không thể được giải quyết đầy đủ bằng một ngành khoa học riêng lẻ, mà cần sự kết nối giữa nhiều nguồn tri thức và kinh nghiệm thực tiễn.

Thứ tư, giá trị nghiên cứu không nên dừng lại ở số lượng công trình hay công bố. Một kết quả khoa học có ý nghĩa cần có cơ hội đi từ nghiên cứu đến lớp học, từ nhà trường đến chính sách và từ chính sách đến đời sống. Điều đó đòi hỏi cơ chế chuyển giao, nguồn lực duy trì và phương thức đánh giá tác động thực chất.

04-1.jpg
Hội thảo Quốc gia về khoa học giáo dục 2026 quy tụ đông đảo nhà khoa học cùng đội ngũ giảng viên, giáo viên ở nhiều cơ sở giáo dục trong cả nước, khẳng định sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học giáo dục với thực tiễn nhà trường.

Triển vọng lớn của khoa học giáo dục Việt Nam vì thế không chỉ nằm ở khả năng ứng dụng công nghệ mới, mà ở việc xây dựng một hệ sinh thái tri thức có khả năng tự học hỏi và cải tiến: nghiên cứu tạo ra bằng chứng; bằng chứng định hướng thực hành; thực tiễn cung cấp dữ liệu mới; và những kết quả được kiểm chứng tiếp tục làm giàu tri thức, hoàn thiện chính sách.

Đối với các trường đại học sư phạm, sứ mệnh trong kỉ nguyên AI không chỉ là đào tạo những nhà giáo biết sử dụng công nghệ, mà còn là tạo ra tri thức về việc học, phát triển năng lực thiết kế giáo dục và hình thành đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ vì mục tiêu phát triển con người.

Khuyến nghị Đà Nẵng 2026 – 5C: Từ đồng thuận đến hành động

Một dấu ấn định hướng của hội thảo là Khuyến nghị Đà Nẵng 2026 – 5C, đề xuất định hướng phát triển khoa học giáo dục Việt Nam giai đoạn 2026–2035.

Khuyến nghị xác lập ba thông điệp nền tảng: con người là trung tâm, công nghệ là công cụ; đổi mới giáo dục phải dựa trên bằng chứng và dữ liệu có chất lượng; khoa học giáo dục là hạ tầng tri thức của quốc gia.

05.jpg
Khuyến nghị 5C được đề xuất từ những trao đổi học thuật và kết quả nghiên cứu được chia sẻ tại Hội thảo Quốc gia về Khoa học giáo dục năm 2026.

Định hướng 5C gồm: Chọn đúng – Chứng cứ mạnh – Chủ động công nghệ – Cùng kiến tạo – Chuyển giao tri thức.

Chọn đúng là tập trung nguồn lực vào những vấn đề giáo dục có ý nghĩa cấp thiết và lâu dài. Chứng cứ mạnh đặt chất lượng nghiên cứu và tính tin cậy của bằng chứng làm nền tảng. Chủ động công nghệ hướng tới năng lực lựa chọn, làm chủ và sử dụng công nghệ có trách nhiệm. Cùng kiến tạo thúc đẩy hợp tác giữa các chủ thể trong hệ sinh thái giáo dục. Chuyển giao tri thức hướng kết quả nghiên cứu đến lớp học, nhà trường, chính sách và cộng đồng.

Điểm đáng chú ý của 5C là kết nối định hướng học thuật với yêu cầu hành động. Những thách thức như bất bình đẳng trong tiếp cận công nghệ, tác động của AI đến nhận thức và sức khỏe tinh thần, hay năng lực thích ứng của nhà giáo đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ sinh thái giáo dục, chứ không thể chỉ trông chờ vào từng nhà nghiên cứu hay cơ sở đào tạo.

Giá trị của khuyến nghị sẽ được quyết định không chỉ bởi sức lan tỏa của thông điệp tại hội thảo, mà còn bởi khả năng chuyển hóa thành chương trình nghiên cứu dài hạn, mạng lưới hợp tác bền vững, nguồn lực phù hợp và những thay đổi có thể nhận diện trong thực tiễn giáo dục Việt Nam giai đoạn 2026–2035.

Đầu tư cho khoa học, văn hóa và giáo dục là đầu tư cho tương lai quốc gia

Từ câu chuyện khoa học học tập và AI, một vấn đề rộng lớn hơn được đặt ra: cần nhìn nhận đầu tư cho giáo dục như thế nào trong chiến lược phát triển quốc gia?

Khoa học tạo ra tri thức mới; văn hóa hình thành hệ giá trị, bản sắc và cách con người lựa chọn sử dụng tri thức; giáo dục chuyển hóa những thành quả ấy thành năng lực, phẩm chất và khả năng sáng tạo của các thế hệ. Ba lĩnh vực không tồn tại tách biệt, mà cần được kết nối để tạo nên nền tảng phát triển bền vững.

Nếu chỉ đầu tư vào công nghệ mà thiếu nền tảng văn hóa và năng lực tư duy, xã hội có thể xử lí thông tin nhanh hơn nhưng chưa chắc phán đoán đúng đắn hơn. Nếu tri thức khoa học thiếu cơ chế giáo dục và chuyển giao, thành quả nghiên cứu khó tạo ra tác động rộng rãi. Và nếu giáo dục thiếu đầu tư dài hạn, các thế hệ tương lai sẽ gặp khó khăn trong việc làm chủ những công nghệ và tri thức đang định hình thế giới.

06-2.jpg
Hội thảo Quốc gia về Khoa học giáo dục năm 2026 diễn ra tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng cũng đồng thời mở ra những mối quan hệ hợp tác và sáng kiến mới.

Bởi vậy, năng lực cạnh tranh của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào việc tiếp cận công nghệ đến đâu, mà còn vào khả năng tạo ra tri thức, phát triển con người và sử dụng thành tựu khoa học có trách nhiệm. Đầu tư cho khoa học, văn hóa và giáo dục cần được nhìn bằng tầm nhìn dài hạn, qua năng lực và những giá trị mà xã hội tích lũy cho tương lai.

Với Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, ý nghĩa của hội thảo không chỉ nằm ở những gì được trình bày trong hai ngày, mà còn ở những câu hỏi nghiên cứu, mối quan hệ hợp tác và sáng kiến tiếp tục được nuôi dưỡng sau hội thảo. Đó cũng là cách một cơ sở giáo dục đại học khẳng định vai trò trong kiến tạo tri thức, kết nối nghiên cứu với thực tiễn và góp phần định hình tương lai giáo dục.

Kỉ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục năm 2026 là tài liệu tham khảo dành cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục, người học và những ai quan tâm đến AI, khoa học học tập và đổi mới giáo dục Việt Nam.

Bạn đọc có thể tìm hiểu thông tin chính thức về hội thảo tại website Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng: https://ued.udn.vn/url/kỷ-yếu-hội-thảo-QG-KHGD-2026

Điều đáng mong đợi không chỉ là ngày càng có nhiều người biết đến kỉ yếu, mà còn là ngày càng có nhiều người đọc, đối thoại, trích dẫn và tiếp tục nghiên cứu từ những tri thức được tập hợp trong đó. Bởi một nền khoa học phát triển không chỉ nhờ những công trình được tạo ra, mà còn nhờ khả năng tiếp nhận, kiểm chứng và phát triển chúng thành tri thức mới.

Tương lai giáo dục không được quyết định chỉ bởi những công nghệ chúng ta sở hữu, mà bởi những con người chúng ta nuôi dưỡng, những giá trị chúng ta gìn giữ và những tri thức chúng ta kiên trì kiến tạo. Đầu tư cho con người, văn hóa, khoa học và giáo dục hôm nay chính là đặt nền móng cho năng lực phát triển bền vững của quốc gia ngày mai.

Bích Thủy