Là giáo viên, tôi thấy còn bất cập về dự kiến quy định số lượng tổ trưởng, tổ phó chuyên môn ở CSGD

04/11/2026 06:42
NGUYỄN NGUYÊN
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Những tổ chuyên môn đảm bảo yêu cầu số lượng nhưng chỉ có 01 điểm trường, giảng dạy 01 môn học độc lập thì không cần thiết phải bố trí 02 tổ phó khi tổ chuyên môn có từ 10 thành viên.

Dự thảo Thông tư quy định định mức số lượng người làm việc trong cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập và dự bị đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo có một số nội dung đáng quan tâm về dự thảo số lượng tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn, tổ văn phòng và tổ giáo dục đặc thù.

Theo dự thảo, số lượng tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn, tổ văn phòng và tổ giáo dục đặc thù (nếu có) được tính trong số lượng người làm việc ở các vị trí việc làm giáo viên và vị trí việc làm hỗ trợ đã được giao cho cơ sở giáo dục, không bố trí riêng số lượng người làm việc cho các vị trí này.

Về số lượng tổ phó, đối với cơ sở giáo dục không có phân hiệu, tổ chuyên môn hoặc tổ đặc thù có từ 7 đến 9 người được bố trí 1 tổ phó; từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 tổ phó. Đối với cơ sở giáo dục có phân hiệu, trường chính được bố trí 1 tổ phó và mỗi phân hiệu được bố trí 1 tổ phó. Riêng tổ văn phòng có từ 7 đến 9 người được bố trí 1 tổ phó; từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 tổ phó.

Việc quy định số lượng tổ phó căn cứ vào số thành viên của tổ và đặc điểm trường có hay không có phân hiệu theo người viết là chưa phù hợp, chưa phản ánh đầy đủ tính chất, khối lượng và mức độ phức tạp của công việc quản lý tổ chuyên môn hiện nay.

image.jpg
Ảnh minh họa

Một số băn khoăn về dự thảo Thông tư

Thứ nhất, dự thảo Thông tư chưa đánh giá đúng vai trò và khối lượng công việc của tổ trưởng, tổ phó chuyên môn. Tổ trưởng chuyên môn không đơn thuần là một giáo viên được phân công kiêm nhiệm thêm chức vụ mà thực chất là một vị trí quản lý trung gian, giữ vai trò kết nối giữa ban giám hiệu với đội ngũ giáo viên, nhất là những trường có nhiều phân hiệu.

Vì thế, cách xác định số lượng tổ phó theo số thành viên có phần chưa thực sự hợp lý. Theo dự thảo, tổ có từ 7 đến 9 người được bố trí 1 tổ phó, từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 tổ phó. Cách xác định này có phần máy móc vì số lượng thành viên không phải là yếu tố duy nhất quyết định khối lượng và mức độ phức tạp trong hoạt động của tổ chuyên môn.

Chẳng hạn, một tổ Toán, tiếng Anh ở một trường không có phân hiệu, mỗi tổ có 10 giáo viên nhưng chỉ giảng dạy một môn học độc lập sẽ có tính chất công việc khác với một tổ có 10 giáo viên nhưng phải đảm nhận nhiều phân môn.

Chẳng hạn, môn Khoa học tự nhiên ở cấp trung học cơ sở hiện nay đang phải giảng dạy nhiều phân môn, môn học khác nhau, đó là: môn Công nghệ; phân môn Hóa học, Sinh học, Vật lý, có tỉnh yêu cầu dạy cả phân môn Nội dung giáo dục địa phương.

Các tổ chuyên môn Ngữ văn; Lịch sử và Địa lý; Nghệ thuật, Giáo dục công dân đang phải dạy thêm 01 phân môn Nội dung giáo dục địa phương.

Do đó, nếu chỉ căn cứ vào số lượng thành viên để quyết định số tổ phó mà không xem xét đặc điểm chuyên môn, số lượng môn học, số khối lớp và nhiệm vụ được giao thì sẽ khó bảo đảm tính công bằng giữa các nhà trường.

Nếu trường chỉ có một cơ sở, nhiều tổ chuyên môn không nhất thiết khi tổ có từ 10 thành viên trở lên sẽ bố trí 2 tổ phó. Nhưng, tổ Khoa học tự nhiên thì việc bố trí 2 tổ phó sẽ thuận lợi hơn trong quản lý, điều hành. Các tổ còn lại nếu dưới 15 thành viên chỉ cần 01 tổ trưởng; 01 tổ phó là phù hợp.

Thứ hai: đối với những trường có nhiều phân hiệu, cần tính toán kĩ và linh hoạt linh hoạt để phù hợp. Việc quy định trường chính được bố trí 1 tổ phó và mỗi phân hiệu được bố trí 1 tổ phó có thể chưa phù hợp với thực tế tổ chức của từng đơn vị. Có trường chỉ có một phân hiệu với quy mô nhỏ, số lượng giáo viên ít; nhưng cũng có trường có nhiều phân hiệu, khoảng cách địa lý xa nhau, điều kiện đi lại khó khăn, quy mô học sinh và số lượng giáo viên lớn.

Nếu áp dụng cùng một nguyên tắc bố trí mà không tính đến quy mô, khoảng cách địa lý, số lượng tổ chuyên môn và mức độ độc lập trong hoạt động của từng phân hiệu thì có thể dẫn đến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu nhân sự quản lý.

Đặc biệt, đối với những trường có nhiều phân hiệu, một tổ chuyên môn có thể phải quản lý giáo viên ở nhiều địa điểm khác nhau, việc điều hành, kiểm tra và tổ chức sinh hoạt chuyên môn sẽ phức tạp hơn rất nhiều so với trường chỉ có một địa điểm.

Thứ ba: dự thảo Thông tư chưa tính đến sự khác biệt về quy mô và tính chất hoạt động giữa các cơ sở giáo dục.

Chẳng hạn, một trường có 1.000 đến 2.000 học sinh, nhiều lớp, nhiều tổ chuyên môn và đội ngũ giáo viên đông đảo chắc chắn có yêu cầu quản lý khác với một trường chỉ có vài trăm học sinh. Thế nhưng, nếu chỉ áp dụng một cách xác định số lượng tổ trưởng, tổ phó dựa trên số thành viên của từng tổ thì chưa phản ánh đầy đủ mức độ phức tạp trong quản lý.

Đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp mạng lưới trường lớp, sáp nhập đơn vị và hình thành những cơ sở giáo dục có quy mô lớn, nhiều cấp học hoặc nhiều phân hiệu, việc quản lý chuyên môn sẽ phát sinh thêm nhiều nhiệm vụ. Vì vậy, cần có cơ chế bố trí nhân sự quản lý chuyên môn phù hợp với đặc thù từng trường, thay vì quá chú trọng mục tiêu tinh giản số lượng người làm việc.

Thứ tư: dự thảo chưa làm rõ cơ chế bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ, đó là tổ trưởng, tổ phó được tính chung trong số lượng giáo viên và nhân viên hỗ trợ, chế độ giảm định mức tiết dạy, phụ cấp chức vụ và các quyền lợi liên quan.

Từ những bất cập trên, người viết bài cho rằng cơ quan soạn thảo cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh dự thảo theo hướng linh hoạt và sát thực tiễn hơn.

Giải pháp khắc phục những bất cập trong quy định số lượng tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn và tổ văn phòng

Để quy định về số lượng tổ trưởng, tổ phó trong các cơ sở giáo dục công lập thực sự phù hợp với thực tiễn, vừa đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy, vừa bảo đảm hiệu quả hoạt động chuyên môn, người viết bài cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo cần hướng đến một số giải pháp sau:

Thứ nhất: cần xây dựng tiêu chí bố trí tổ trưởng, tổ phó theo quy mô và tính chất hoạt động của từng nhà trường, không nên chỉ căn cứ vào số lượng thành viên trong tổ.

Ngoài số lượng giáo viên, cần tính đến quy mô học sinh, số lớp, số môn học, số khối lớp, số lượng phân hiệu, khoảng cách địa lý giữa các điểm trường và khối lượng công việc chuyên môn được giao. Một trường có quy mô lớn, nhiều tổ chuyên môn, nhiều phân hiệu chắc chắn cần đội ngũ quản lý chuyên môn đông hơn trường có quy mô nhỏ. Vì vậy, cần có các mức bố trí linh hoạt, tránh áp dụng một công thức cứng nhắc cho tất cả các cơ sở giáo dục.

Thứ hai: cần cho phép bố trí tổ phó phù hợp với đặc thù của từng tổ chuyên môn.

Không nên quy định cứng tổ có từ 7 đến 9 người chỉ được bố trí 1 tổ phó, từ 10 người trở lên mới được bố trí tối đa 2 tổ phó.

Thay vào đó, cần giao quyền chủ động cho hiệu trưởng căn cứ vào tình hình thực tế, số lượng giáo viên, khối lượng công việc và yêu cầu quản lý để đề xuất bố trí tổ phó.

Đối với những tổ có nhiều môn học, nhiều phân môn, đảm nhận nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác nhau, cần được xem xét bố trí thêm tổ phó ngay cả khi số lượng thành viên chưa đạt ngưỡng quy định. Nhưng, những tổ chuyên môn đảm bảo yêu cầu số lượng nhưng chỉ giảng dạy 01 môn học thì không cần thiết phải bố trí 02 tổ phó khi tổ chuyên môn có từ 10 thành viên.

Thứ ba: đối với những trường có từ hai phân hiệu trở lên, nhất là các phân hiệu cách xa trường chính, cần xem xét bố trí tổ phó hoặc người phụ trách chuyên môn tại từng phân hiệu trên cơ sở quy mô thực tế.

Không nên chỉ quy định trường chính có một tổ phó và mỗi phân hiệu có một tổ phó mà không quan tâm đến số lượng giáo viên, số lớp và nhiệm vụ quản lý tại từng địa điểm. Những trường có nhiều phân hiệu, quy mô lớn cần được ưu tiên bố trí nhân sự quản lý chuyên môn tương xứng để bảo đảm việc điều hành không bị hình thức, chồng chéo hoặc quá tải.

Thứ tư: phải có chính sách giảm định mức tiết dạy tương xứng với trách nhiệm của tổ trưởng, tổ phó- đây là giải pháp đặc biệt quan trọng.

Cần nghiên cứu tăng mức giảm định mức tiết dạy cho tổ trưởng, tổ phó theo quy mô và tính chất công việc của từng tổ. Đối với tổ trưởng ở những trường lớn, nhiều giáo viên, nhiều phân hiệu, cần có mức giảm định mức cao hơn so với những tổ có quy mô nhỏ.

Thứ năm: cần bảo đảm chế độ phụ cấp và quyền lợi tương xứng với trách nhiệm được giao. Bởi lẽ, khi xác định tổ trưởng, tổ phó là những vị trí đảm nhận nhiệm vụ quản lý chuyên môn, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp, tránh tình trạng trách nhiệm tăng nhưng chế độ không thay đổi hoặc bị thu hẹp.

Cần nghiên cứu mức phụ cấp chức vụ dựa trên quy mô trường, số lượng giáo viên, số lượng phân hiệu và mức độ phức tạp của công việc. Không nên đánh đồng tổ trưởng một tổ chuyên môn chỉ có vài giáo viên với tổ trưởng một tổ có hàng chục giáo viên, đảm nhận nhiều khối lớp và nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác nhau.

Thứ sáu: cần phân cấp, trao quyền chủ động cho hiệu trưởng trong việc đề xuất và bố trí nhân sự quản lý tổ chuyên môn. Bởi, hiệu trưởng là người trực tiếp điều hành hoạt động nhà trường, hiểu rõ nhất đặc điểm đội ngũ, quy mô và những khó khăn trong quản lý chuyên môn.

Không nên áp dụng cơ chế phân bổ cứng nhắc khiến người đứng đầu nhà trường dù nhận thấy thiếu nhân sự quản lý nhưng vẫn không có quyền chủ động giải quyết.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

NGUYỄN NGUYÊN