Ngoài miễn học phí, cần rõ cơ hội việc làm sau tốt nghiệp để tăng sức hấp dẫn của ngành thể thao

19/08/2026 06:25
Hồng Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Nếu được thông qua, chính sách miễn học phí cho người học ngành thể thao sẽ tạo tác động tích cực ở ba cấp độ: tiếp cận giáo dục, lựa chọn ngành học và phát triển nguồn nhân lực.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Đáng chú ý, người học các ngành thể thao được bổ sung vào nhóm đối tượng được miễn học phí.

Đại diện các cơ sở giáo dục đào tạo nhóm ngành này nhận định, chính sách sẽ phát huy hiệu quả khi vừa giảm gánh nặng cho người học, vừa bảo đảm nguồn lực đào tạo và tạo được cơ hội việc làm, thu nhập, phát triển nghề nghiệp bền vững sau tốt nghiệp.

Chính sách miễn học phí sẽ mang lại nhiều tác động tích cực

Đánh giá về việc miễn học phí cho người học ngành thể thao, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh - Trưởng khoa, Khoa Khoa học Thể dục Thể thao (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) cho rằng, nếu được thông qua, chính sách này sẽ tạo tác động tích cực ở ba cấp độ: tiếp cận giáo dục, lựa chọn ngành học và phát triển nguồn nhân lực.

Trước hết, miễn học phí làm giảm trực tiếp chi phí mà gia đình và người học phải cân nhắc khi lựa chọn ngành. Đây không chỉ là tác động về kinh tế mà còn tạo ra một tín hiệu chính sách cho thấy Nhà nước xác định nhân lực thể dục thể thao là nguồn nhân lực cần được ưu tiên phát triển.

Về dài hạn, chính sách có thể giúp mở rộng nguồn cung nhân lực cho lĩnh vực thể thao, không chỉ ở giáo dục thể chất mà cả quản lý, tổ chức sự kiện, kinh doanh và dịch vụ thể thao, quản lý cơ sở vật chất, khoa học thể thao và các lĩnh vực mới. Điều này phù hợp với Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, trong đó định hướng phát triển nguồn nhân lực đã mở rộng sang quản lý, khoa học - công nghệ, y học và kinh tế thể thao.

Cũng cần nhìn nhận ở chiều ngược lại, nếu chỉ miễn học phí mà thông tin nghề nghiệp và thị trường lao động chưa rõ, có thể xuất hiện việc người học lựa chọn ngành chủ yếu vì ưu đãi tài chính. Vì vậy, tác động tốt nhất của chính sách không phải là tuyển được nhiều hơn bằng mọi giá, mà là thu hút đúng người, đào tạo đúng năng lực và đưa được người học vào đúng những vị trí mà xã hội đang cần.

Đề cập đến chi phí đào tạo thực tế của nhóm ngành thể dục, thể thao, Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh chỉ ra, cần phân biệt giữa học phí người học phải đóng và chi phí thực tế để tổ chức đào tạo. Với ngành Quản lý thể dục thể thao tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, thông tin tham khảo hiện nay cho thấy học phí khoảng 15,9 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, chi phí đào tạo thực tế còn bao gồm chi phí giảng dạy, cơ sở vật chất, sân bãi, nhà tập, trang thiết bị chuyên môn, bảo trì, tổ chức thực hành và các hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp.

Do đặc thù đào tạo thể thao có tỷ trọng thực hành và yêu cầu cơ sở vật chất tương đối lớn, chi phí đào tạo thực tế không thể chỉ được phản ánh bằng mức học phí đang thu. Do đó, khi thực hiện miễn học phí, về bản chất chi phí đào tạo không giảm mà nguồn chi trả được chuyển từ người học sang Nhà nước. Đối với cơ sở đào tạo, hiệu quả của chính sách phụ thuộc chủ yếu vào mức cấp bù có sát với chi phí đào tạo thực tế và được cấp đầy đủ, kịp thời hay không.

Theo vị Trưởng khoa, để chính sách bền vững, cơ chế cấp bù cần tính đến đặc thù của từng ngành và yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo, thay vì chỉ lấy mức học phí hiện hành làm căn cứ.

z7828970247447-0cf1e4de33c22e1da688d488d34c54a1-7392.jpg
Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh - Trưởng khoa Khoa học Thể dục thể thao, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NVCC.

Cùng bàn luận về nội dung này, Tiến sĩ Võ Quốc Thắng - Hiệu trưởng Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh cho hay: “Đây là chính sách thiết thực, giúp giảm gánh nặng tài chính, mở rộng cơ hội học tập cho thí sinh có năng khiếu thể thao và thu hút thêm nguồn nhân lực cho lĩnh vực thể thao. Tác động quan trọng nhất không chỉ là tăng số lượng đăng ký mà còn giúp Nhà trường tuyển đúng người có tố chất và đam mê thể thao, cân đối nguồn nhân lực cho các vị trí như huấn luyện viên, giáo viên, cán bộ quản lý, chuyên viên y sinh học và tổ chức sự kiện, dịch vụ thể thao".

Phân tích về chi phí đào tạo, thầy Thắng chỉ ra, đào tạo thể dục thể thao có chi phí thực hành tương đối cao. Nhà trường phải duy trì sân bãi, nhà tập, hồ bơi; đầu tư và bảo dưỡng máy móc, dụng cụ, thiết bị; tổ chức lớp thực hành với quy mô nhỏ theo từng môn; đồng thời bảo đảm an toàn, y tế và đội ngũ giảng viên, huấn luyện viên.

Vì vậy, dự thảo cần hướng dẫn cụ thể cơ chế cấp bù, mức cấp bù, thời điểm cấp, phương thức quyết toán và cách xử lý phần chênh lệch giữa mức học phí thực tế với mức ngân sách nhà nước cấp bù. Kinh phí phải được bố trí đầy đủ, kịp thời và ổn định để các cơ sở đào tạo duy trì chất lượng.

Nêu băn khoăn về vấn đề học phí, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Toại - Phó trưởng phòng Tổ chức, Tài vụ, pháp chế, Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh chỉ ra, hiện nay, mức trần học phí của ngành thể dục thể thao đang được xếp cùng nhóm với các ngành nhân văn, khoa học xã hội và hành vi, báo chí và thông tin, dịch vụ xã hội, du lịch, khách sạn, dịch vụ vận tải, môi trường và bảo vệ môi trường.

Mặc dù vậy, đào tạo thể dục thể thao có nhiều đặc thù riêng, nhất là yêu cầu thực hành cao, cần đầu tư sân bãi, trang thiết bị, dụng cụ tập luyện và thi đấu. Vì thế, chi phí đào tạo thực tế thường cao hơn so với nhiều ngành trong cùng nhóm. Việc xếp chung một mức trần học phí phần nào chưa phản ánh đúng đặc thù của ngành thể dục thể thao. Trong khi chi phí đào tạo lớn, nguồn thu bị giới hạn sẽ tạo áp lực về tài chính, ảnh hưởng đến khả năng đầu tư cơ sở vật chất cũng như chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên.

bong-chuyen.jpg
Ảnh minh họa: Website Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh.

Miễn học phí cần đi cùng chính sách về việc làm

Để chính sách miễn học phí không chỉ giúp tăng tuyển sinh mà còn tạo nguồn nhân lực lâu dài cho nền thể thao Việt Nam, gắn với định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh cho hay, xu hướng hiện nay đòi hỏi chuyển từ tư duy “đào tạo nhân lực cho ngành thể thao” sang “phát triển nhân lực cho một hệ sinh thái thể thao”. Hệ sinh thái đó ngày càng rộng, bao gồm giáo dục thể chất, thể thao cộng đồng, thể thao thành tích cao, kinh doanh và dịch vụ thể thao, quản lý thiết chế, tổ chức sự kiện, truyền thông, sức khỏe, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số.

Về đào tạo, cần chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu và năng lực nghề nghiệp. Chương trình không chỉ cung cấp kiến thức chuyên môn thể thao mà phải tăng các năng lực quản lý, công nghệ và phân tích dữ liệu, ngoại ngữ, truyền thông, kinh tế thể thao, tổ chức sự kiện, khoa học và sức khỏe thể thao. Nghiên cứu về thị trường lao động thể thao cũng cho thấy ngoài chuyên môn, nhà tuyển dụng ngày càng coi trọng những năng lực như giao tiếp, tư duy phân tích, khả năng thích ứng và quản trị nghề nghiệp.

Cùng với đó, cần phát triển mô hình đào tạo gắn với môi trường nghề nghiệp thực: tăng thời lượng thực tập, đào tạo theo dự án, tham gia tổ chức giải đấu và sự kiện, hợp tác với trung tâm, câu lạc bộ, liên đoàn, hiệp hội và doanh nghiệp thể thao. Kinh nghiệm nghiên cứu giáo dục cũng cho thấy hỗ trợ tài chính có tác động tốt hơn khi đi cùng định hướng nghề nghiệp và các hỗ trợ giúp người học đưa ra quyết định nghề nghiệp phù hợp.

Với việc làm, cần từng bước xây dựng rõ hệ thống vị trí việc làm và chuẩn năng lực nghề nghiệp trong lĩnh vực thể thao. Đây đặc biệt là vấn đề quan trọng đối với ngành Quản lý thể dục thể thao. Khi người học nhìn thấy một lộ trình từ sinh viên - chuyên viên - quản lý - chuyên gia hoặc nhà quản trị thể thao, sức hấp dẫn của ngành sẽ bền vững hơn nhiều so với chỉ hỗ trợ học phí.

Liên quan tới thu nhập và đãi ngộ, cần tiếp cận theo năng lực, vị trí việc làm và hiệu quả nghề nghiệp; đồng thời có chính sách phù hợp đối với những vị trí đặc thù, vùng khó khăn, nhân lực tài năng và những nghề có vòng đời chuyên môn đặc biệt như vận động viên, huấn luyện viên. Chiến lược phát triển thể dục thể thao quốc gia đã xác định yêu cầu quan tâm đến lương, thưởng, bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe, đào tạo và việc làm sau khi vận động viên kết thúc thi đấu.

Ở khía cạnh xu hướng phát triển nghề nghiệp, cần tạo cơ chế học tập suốt đời và chuyển đổi nghề nghiệp trong nội bộ lĩnh vực thể thao. Chẳng hạn, vận động viên sau giai đoạn thi đấu có thể được đào tạo bổ sung để chuyển sang huấn luyện, quản lý, kinh doanh hoặc tổ chức sự kiện; người tốt nghiệp có thể tích lũy các chứng chỉ chuyên sâu để dịch chuyển giữa giáo dục, quản lý và dịch vụ thể thao. Điều này giúp nguồn nhân lực không chỉ được “đào tạo một lần” mà có khả năng thích ứng trong suốt vòng đời nghề nghiệp.

Đặc biệt, Nghị quyết 80-NQ/TW đã đặt ra định hướng xây dựng cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng thể thao, đồng thời thúc đẩy các mô hình hợp tác công - tư đối với một số thiết chế văn hóa, thể thao. Đây là định hướng quan trọng, bởi tương lai của thị trường lao động thể thao không thể chỉ dựa vào khu vực công mà cần sự tham gia ngày càng sâu của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.

Vị Trưởng khoa bày tỏ: "Theo tôi, về dài hạn nên đánh giá hiệu quả chính sách không chỉ bằng số lượng thí sinh đăng ký hay số sinh viên nhập học, mà cần theo dõi cả tỷ lệ duy trì học tập, tốt nghiệp, việc làm phù hợp chuyên môn, thu nhập, mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng lao động và khả năng phát triển nghề nghiệp của người tốt nghiệp.

Nói cách khác, miễn học phí là chính sách mở rộng cơ hội tiếp cận đào tạo; còn để tạo nguồn nhân lực thể thao bền vững phải hình thành được một chuỗi hoàn chỉnh: thu hút đúng người - đào tạo đúng năng lực - kết nối đúng việc làm - tạo thu nhập phù hợp - và mở ra cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài".

Chia sẻ tình hình tuyển sinh chung của Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây, Tiến sĩ Võ Quốc Thắng thông tin, đơn vị ghi nhận những tín hiệu tích cực, nhưng mức độ quan tâm giữa các ngành, chuyên ngành và môn thể thao chưa đồng đều (tập trung các môn có tính xã hội hóa cao như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông). Trong khi đó một số môn như bắn súng, cờ, quần vợt còn chưa được nhiều người học lựa chọn và quan tâm.

Nguyên nhân chủ yếu là nhận thức về cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực thể thao còn hạn chế; yêu cầu đầu vào và quá trình học đòi hỏi năng khiếu, thể lực, kỹ năng thực hành; người học còn phải chi cho trang phục, dụng cụ tập luyện và dinh dưỡng để đảm bảo việc tập luyện. Bên cạnh đó, thông tin về vị trí việc làm, thu nhập và lộ trình phát triển nghề nghiệp sau tốt nghiệp ở một số lĩnh vực chưa thật rõ ràng. Bởi thế, miễn học phí là cần thiết nhưng phải đi cùng chính sách việc làm và kết nối giữa cơ sở đào tạo với các đơn vị sử dụng nhân lực.

Đưa ra thêm kiến nghị để phát triển nguồn nhân lực thể thao, Hiệu trưởng Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, nên tập trung vào một số nội dung sau:

Dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, vị trí việc làm và địa phương, tăng đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo đối với lĩnh vực xã hội cần nhưng khó tuyển sinh; Tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học với trung tâm huấn luyện, liên đoàn, câu lạc bộ, doanh nghiệp và địa phương; Hoàn thiện vị trí việc làm, chế độ tuyển dụng, thu nhập và lộ trình nghề nghiệp đối với giáo viên giáo dục thể chất, huấn luyện viên, chuyên viên y sinh học và cán bộ quản lý thể thao.

Ngoài ra, cần làm rõ trong Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03/9/2025 của Chính phủ về nội dung người học được miễn học phí có phải thực hiện nghĩa vụ công tác trong lĩnh vực thể dục thể thao sau tốt nghiệp hay không? Nếu có, cần quy định cụ thể thời gian công tác, phạm vi đơn vị hoặc vị trí việc làm được tính là thực hiện nghĩa vụ, trường hợp được tạm hoãn hoặc miễn, trách nhiệm hoàn trả khi không thực hiện và cơ chế theo dõi, giám sát. Quy định phải rõ ngay từ khi tuyển sinh để người học biết và tự nguyện cam kết, đồng thời tránh phát sinh thủ tục khó thực hiện.

z7476656079118-efc0978cbed34b652986fd65936c22b9.jpg
Tiến sĩ Võ Quốc Thắng - Hiệu trưởng Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

Theo chia sẻ từ Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Toại, nếu số lượng người học các ngành thể thao tăng mạnh trong thời gian tới, việc nâng cao năng lực đào tạo cần được triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện.

"Để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của xã hội, các cơ sở đào tạo thể dục thể thao không chỉ cần tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo mà còn phải được đầu tư thêm về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên. Cùng với chính sách miễn học phí nhằm thu hút người học, cần có các giải pháp bảo đảm nguồn lực để các cơ sở đào tạo nâng cao chất lượng giảng dạy" - thầy Toại nêu ý kiến.

Hồng Linh