Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định 2249/QĐ-BGDĐT phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Quy hoạch định hướng giảm còn 50 đến 60 cơ sở giáo dục đại học đào tạo tới trình độ tiến sĩ, trong đó khoảng 50% là cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu, giữ vai trò nòng cốt trong mạng lưới về đào tạo, bồi dưỡng nhân tài gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đang đào tạo trình độ tiến sĩ ở khối ngành công nghệ và kỹ thuật, việc giảm quy mô cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ là hướng đi cần thiết để nâng chất lượng đào tạo, tập trung nguồn lực đầu tư vào các đơn vị có đủ tiềm lực.

Là cơ sở để phân tầng hệ thống giáo dục đại học, tập trung nguồn lực đầu tư

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc quy hoạch còn 50-60 trường đào tạo trình độ tiến sĩ là hướng đi hợp lý, bởi đây là cơ sở để từng bước phân tầng hệ thống giáo dục đại học, tập trung đào tạo tiến sĩ tại những trường có đủ tiềm lực về đội ngũ, cơ sở vật chất và năng lực nghiên cứu, thay vì để quá nhiều cơ sở cùng tham gia đào tạo ở trình độ này.

Những trường chưa đạt yêu cầu có thể tập trung vào đào tạo cử nhân, thạc sĩ và phát triển năng lực từng bước. Nếu được triển khai đồng bộ với cơ chế kiểm định, đánh giá định kỳ và chính sách đầu tư phù hợp, định hướng này sẽ góp phần hình thành những trung tâm đào tạo tiến sĩ và nghiên cứu mạnh, qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao của Việt Nam.

475505814-1407822330581540-8473704701059046449-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường

Trước băn khoăn về việc cần nâng cao chất lượng đầu vào của nghiên cứu sinh khi quy mô cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ giảm xuống, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc nhận định các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về điều kiện đầu vào và đầu ra đối với nghiên cứu sinh đã tương đối hợp lý, do đó chưa cần thiết phải tiếp tục nâng các yêu cầu này một cách cứng nhắc.

Với những cơ sở đào tạo có đặc thù và năng lực riêng, các trường hoàn toàn có thể chủ động nâng chuẩn theo yêu cầu của mình để tuyển chọn được những nghiên cứu sinh phù hợp và bảo đảm chất lượng đầu ra.

Theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, việc nâng yêu cầu đối với nghiên cứu sinh phải đi kèm cơ chế hỗ trợ tương xứng. Nếu đặt KPI quá cao mà không có chính sách đồng hành, người học có thể cảm thấy áp lực và không muốn tham gia học chương trình tiến sĩ.

Ngược lại, khi các yêu cầu về công bố được gắn với hỗ trợ tài chính, cơ hội nghiên cứu và môi trường học thuật, nghiên cứu sinh sẽ có thêm động lực để phấn đấu.

Thầy Phúc cho biết Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng có cơ chế khuyến khích đáng chú ý: nghiên cứu sinh có 3 bài báo quốc tế với tổng chỉ số Impact Factor (IF) trên 3,0 có thể được miễn phản biện độc lập, qua đó rút ngắn quy trình bảo vệ luận án nhưng vẫn dựa trên một chuẩn đầu ra rõ ràng về năng lực nghiên cứu.

“Đối với nhóm cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, các chỉ tiêu về công bố khoa học có thể được xem như những KPI quan trọng để thúc đẩy chất lượng đào tạo. Khi Nhà nước hoặc hệ thống đại học đặt ra mục tiêu cụ thể, từng trường sẽ phải phân rã thành các chỉ tiêu phù hợp cho giảng viên, nhóm nghiên cứu và nghiên cứu sinh, đồng thời xây dựng cơ chế hỗ trợ để hoàn thành mục tiêu.

Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh từng đặt mục tiêu đạt 1.000 bài báo khoa học nằm trong danh mục Scopus, Web of Science và hiện đã nâng mục tiêu lên 1.300 bài. Từ chỉ tiêu chung này, nhà trường triển khai các cơ chế hỗ trợ giảng viên thực hiện đề tài, khuyến khích nghiên cứu sinh công bố bài báo quốc tế và hỗ trợ kinh phí đối với các công bố chất lượng cao như Q1, Q2.

Nếu gắn điều kiện duy trì đào tạo tiến sĩ với năng lực công bố khoa học, các trường sẽ có thêm động lực đầu tư cho nghiên cứu sinh và nâng cao chất lượng đào tạo”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho hay.

Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá định hướng quy hoạch mạng lưới còn khoảng 50-60 cơ sở đào tạo tiến sĩ có thể khiến quy mô tuyển sinh giảm nhẹ trong ngắn hạn, nhưng là bước đi cần thiết để nâng chất lượng toàn hệ thống.

Về điều kiện tổ chức đào tạo tiến sĩ, thầy Trình cho rằng, mỗi cơ sở đào tạo phải bảo đảm đủ điều kiện về giảng dạy lý thuyết, tổ chức thực nghiệm và hỗ trợ nghiên cứu sinh triển khai đề tài. Đặc biệt với các ngành khoa học tự nhiên, STEM và kỹ thuật, hệ thống phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu có vai trò đặc biệt quan trọng.

Tuy nhiên, một trong những điểm nghẽn hiện nay là hạ tầng nghiên cứu, đặc biệt hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ khoa học tự nhiên, STEM và kỹ thuật, vẫn còn hạn chế so với các trường đại học trên thế giới. Do đó, Việt Nam cần có lộ trình đầu tư bài bản hơn cho lĩnh vực này.

751001659-1014965491150369-894299529875282115-n.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá tích cực chủ trương xây dựng các phòng thí nghiệm dùng chung, phòng chế thử và phòng đo kiểm dùng chung trên phạm vi toàn quốc. Đây có thể trở thành nguồn lực quan trọng giúp các cơ sở đào tạo, thay vì phải đầu tư toàn bộ hạ tầng riêng, có thể cùng khai thác những hệ thống thiết bị hiện đại.

“Nếu các hạ tầng dùng chung được tổ chức và vận hành hiệu quả, nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ sẽ được sử dụng thiết thực hơn, đồng thời tạo điều kiện để trường đại học và doanh nghiệp cùng tiếp cận, chia sẻ thiết bị, tri thức và kết quả nghiên cứu”, thầy Trình chia sẻ.

Đối với yêu cầu về công bố khoa học và năng lực của đội ngũ hướng dẫn, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình cho rằng tiêu chí cần được xác định phù hợp với định hướng và đặc thù của từng cơ sở đào tạo.

Riêng tại Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, yêu cầu đối với giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh và chuẩn đầu ra của nghiên cứu sinh được đặt ở mức cao. Để tạo điều kiện cho người học tập trung nghiên cứu, nhà trường thực hiện chính sách miễn học phí, yêu cầu nghiên cứu sinh làm việc toàn thời gian tại trường và cấp học bổng sinh hoạt phí hàng tháng.

Song song với đó, trường có các chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh, giảng viên hướng dẫn và các nhóm nghiên cứu trong hoạt động xuất bản khoa học, tham dự hội nghị khoa học công nghệ trong nước và quốc tế. Đây là cách tiếp cận mang tính kiến tạo: nhà trường tạo điều kiện và nguồn lực ở mức cao, đồng thời đặt ra yêu cầu tương xứng về kết quả nghiên cứu.

“Yêu cầu cốt lõi của nghiên cứu sinh không chỉ là hoàn thành một đề tài hay có sản phẩm nghiên cứu, mà phải tạo ra được tri thức mới, từ đó hình thành các kết quả đủ chất lượng để công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế. Đồng thời đây cũng là thước đo quan trọng để phân biệt đào tạo tiến sĩ thực chất với việc chỉ đáp ứng các điều kiện mang tính hình thức.

Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW, đào tạo tiến sĩ cần hướng tới khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn”, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội bày tỏ.

Cần kiểm tra định kỳ điều kiện đảm bảo chất lượng duy trì đào tạo tiến sĩ so với thời điểm mở ngành

Một vấn đề đặt ra là các điều kiện duy trì mở ngành đào tạo tiến sĩ có thể biến động so với thời điểm cơ sở giáo dục đào tạo mở ngành ban đầu.

Về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc nhấn mạnh việc bảo đảm đủ số lượng giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và các nhà nghiên cứu có thành tích cao không thể chỉ được tính tại thời điểm mở ngành, mà phải là một chiến lược lâu dài. Thực tế, những giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ có năng lực nghiên cứu cao luôn có nhiều cơ hội nghề nghiệp và có thể dịch chuyển giữa các cơ sở giáo dục đại học. Vì vậy, các trường phải có chiến lược đủ mạnh để thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.

“Trước hết, đó là chế độ đãi ngộ thông qua tiền lương và vị trí việc làm. Người có trình độ và thành tích cao cần được hưởng chế độ tương xứng để tạo động lực phấn đấu lâu dài. Cùng với đó là cơ hội thăng tiến, môi trường nghiên cứu, hệ thống phòng thí nghiệm, cơ chế cấp đề tài và các chính sách hỗ trợ giảng viên phát triển học thuật, hướng tới các chức danh giáo sư, phó giáo sư.

Ngoài ra, Nhà nước cũng cần có cơ chế kiểm tra định kỳ các điều kiện duy trì chương trình đào tạo tiến sĩ, thay vì chỉ thẩm định tại thời điểm mở ngành. Các tiêu chí như tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, số lượng giáo sư, phó giáo sư, năng lực nghiên cứu và kết quả công bố cần được rà soát thường xuyên, có thể theo chu kỳ 3-5 năm.

Cách làm này sẽ hạn chế tình trạng một cơ sở “đủ điều kiện tại thời điểm mở ngành” nhưng sau đó đội ngũ biến động, thậm chí có thể xảy ra tình trạng “mượn người” để đáp ứng tiêu chuẩn ban đầu”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định.

Về định hướng đào tạo tiến sĩ của trường trong thời gian tới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho biết nhà trường đang tập trung phát triển các nhóm nghiên cứu gắn với những công nghệ chiến lược mà Chính phủ ưu tiên như: trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, đường sắt tốc độ cao...

Các nghiên cứu sinh tham gia những nhóm nghiên cứu này không chỉ thực hiện luận án mà còn được định hướng trở thành nghiên cứu viên của nhóm, qua đó có thêm điều kiện và nguồn lực để tập trung cho nghiên cứu.

Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình, để tránh tình trạng một cơ sở đào tạo chỉ đáp ứng điều kiện tại thời điểm mở ngành nhưng sau đó chất lượng đội ngũ và năng lực nghiên cứu suy giảm, yếu tố then chốt là trách nhiệm của các bên liên quan, trước hết là cơ sở giáo dục đào tạo và người đứng đầu đơn vị.

Trách nhiệm này phải gắn với quyền lợi và mục tiêu phát triển lâu dài của nhà trường. Những cơ sở thực sự coi trọng chất lượng và chiến lược phát triển bền vững sẽ chủ động đầu tư, trong khi cách tiếp cận ngắn hạn rất dễ dẫn tới tình trạng “giật gấu vá vai”.

658391772-1402071041720371-3754688970290395415-n.jpg
Nghiên cứu sinh lĩnh vực bán dẫn tại Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Cụ thể, trách nhiệm bảo đảm chất lượng không chỉ thuộc về ban giám hiệu mà cần sự tham gia của lãnh đạo khoa, các nhóm nghiên cứu, giảng viên hướng dẫn và chính nghiên cứu sinh. Khi tham gia vào nhóm nghiên cứu, nếu nhận thấy chất lượng hoặc điều kiện nghiên cứu đi xuống, nghiên cứu sinh cũng cần có tiếng nói để nhà trường tiếp tục đầu tư và củng cố hệ thống.

Tại Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tinh thần này được đặt trong cách tiếp cận “làm chủ tập thể”, tức tất cả các bên cùng tham gia, cùng phản biện và cùng có trách nhiệm đối với sự phát triển của hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu.

“Nhà trường đã xây dựng định hướng phát triển đào tạo sau đại học theo hướng dài hạn. Từ năm 2024, trường bắt đầu triển khai các đề án đồng hành với toàn bộ chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Học viên cao học và nghiên cứu sinh được miễn học phí, đồng thời được cấp học bổng sinh hoạt; đổi lại, nghiên cứu sinh phải làm việc toàn thời gian, tham gia các nhóm nghiên cứu và hỗ trợ hoạt động đào tạo của trường.

Mục tiêu cuối cùng là hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu và đào tạo liên thông từ sinh viên đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh đến đội ngũ giảng viên, trong đó người học được đặt trong môi trường nghiên cứu thực chất ngay từ quá trình đào tạo.

Nhà trường muốn xây dựng một văn hóa lao động trong đào tạo và nghiên cứu khoa học hướng tới bảo đảm chất lượng cao đối với các sản phẩm đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực trình độ cao trong giai đoạn mới”, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình chia sẻ.

Đình Nam