Ngày 6/11, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đăng tải bài viết: “Cao đẳng GTVT Trung ương I quảng bá đào tạo cấp bằng kỹ sư, cử nhân dù Luật không còn khái niệm”. Trong đó, bài viết đề cập đến nội dung Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương I quảng bá thông tin một số chương trình đào tạo cấp bằng kỹ sư, cử nhân. Dù điểm c khoản 1 Điều 38 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, người học tốt nghiệp trình độ cao đẳng được cấp bằng cao đẳng và công nhận danh hiệu “Kỹ sư thực hành” hoặc “Cử nhân thực hành” còn Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 không còn khái niệm văn bằng kỹ sư thực hành, cử nhân thực hành.
Đáng nói, khi phúc đáp nội dung này, nhà trường cho biết, trong quá trình chuyển tiếp và cập nhật các quy định mới, một số thông tin đã đăng tải trên website của nhà trường vẫn để thông tin cũ do Ban quản trị trang website chưa được cập nhật, điều chỉnh kịp thời theo thực tế triển khai.
Sau khi bài viết được đăng tải, nhiều chuyên gia về giáo dục nghề nghiệp cho rằng cần làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị.
Cập nhật thông tin chậm gây hậu quả lớn, cần quy trách nhiệm người đứng đầu
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Trần Anh Tuấn - Chuyên gia Dự báo nguồn nhân lực, Phó Chủ tịch Hội giáo dục nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cần nhìn nhận đây không đơn thuần là một sai sót về kỹ thuật cập nhật website, mà trước hết là vấn đề trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm quản trị của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Tại khoản 3 Điều 6, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 quy định người học hoàn thành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng và đủ điều kiện sẽ được cấp bằng cao đẳng; không còn quy định danh hiệu “Kỹ sư thực hành” hay “Cử nhân thực hành” như trước đây. Như vậy, kể từ thời điểm Luật mới có hiệu lực, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trách nhiệm rà soát, điều chỉnh toàn bộ nội dung thông tin tuyển sinh, quảng bá, tư vấn và giới thiệu chương trình đào tạo để bảo đảm phù hợp với quy định hiện hành.
Theo thầy Tuấn, website là một kênh thông tin chính thức của nhà trường, được sử dụng để cung cấp thông tin và thu hút người học.
Việc sử dụng danh hiệu kỹ sư, cử nhân trong quảng bá, truyền thông tuyển sinh trên website có thể gây ra những nhầm lẫn đáng quan tâm, bởi trong tâm lý xã hội, các danh hiệu này thường tạo ra cảm nhận về trình độ học vấn, vị thế nghề nghiệp và cơ hội việc làm cao hơn so với cách gọi thông thường là tốt nghiệp cao đẳng.
Trên thực tế, trình độ cao đẳng và đại học là những trình độ đào tạo khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân, có yêu cầu đầu vào, chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và văn bằng khác nhau. Nếu trường cao đẳng quảng bá đào tạo cấp bằng kỹ sư, cử nhân, người học có thể hiểu rằng sau khi tốt nghiệp cao đẳng, mình đương nhiên được cấp bằng cử nhân hoặc kỹ sư giống như tốt nghiệp đại học. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn ngành học, định hướng nghề nghiệp và kế hoạch học tập tiếp theo.
Hơn nữa, những thông tin không chính xác có thể khiến người học đánh giá sai khả năng liên thông, học tiếp lên trình độ cao hơn, điều kiện dự tuyển vào các vị trí việc làm hoặc khả năng đáp ứng yêu cầu về trình độ trong các kỳ tuyển dụng.
Đặc biệt, sự nhầm lẫn còn có thể tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các cơ sở đào tạo. Một trường sử dụng những danh hiệu có sức hấp dẫn lớn để quảng bá có thể thu hút người học hơn những trường công bố đúng, đủ và thận trọng về trình độ đào tạo của mình.
Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, khi Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 đã chính thức có hiệu lực thi hành, mọi hoạt động tuyển sinh và đào tạo của các cơ sở giáo dục đều bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt và cập nhật theo các tiêu chuẩn mới. Mọi thông tin chính thức được phát hành trên các nền tảng truyền thông của nhà trường đều phải đảm bảo tính chuẩn xác và tuân thủ tuyệt đối hành lang pháp lý. Nếu xảy ra sai sót, người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải là người chịu trách nhiệm lớn nhất trước pháp luật và xã hội, không thể xem đó chỉ là sự thiếu sót của ban quản trị hay cá nhân nhân viên.
Theo Tiến sĩ Lê Đông Phương, việc trường cao đẳng vẫn duy trì hoặc đăng tải những thông tin quảng bá về việc cấp bằng kỹ sư, cử nhân là sai sự thật và hoàn toàn trái với quy định hiện hành. Khi thông tin đã được đăng tải công khai trên website chính thức của trường, thì việc vẫn để thông tin cũ chưa được cập nhật có thể dẫn tới hậu quả lớn. Bởi, khi tiếp cận những thông tin này, phụ huynh và học sinh sẽ tin tưởng rằng cơ sở đào tạo có đầy đủ năng lực và trách nhiệm pháp lý đối với chương trình đào tạo, cũng như đặt niềm tin rất lớn vào tương lai của họ. Tuy nhiên, khi xảy ra rủi ro hoặc trục trặc về mặt pháp lý của văn bằng, những người đăng ký học thông qua các thông tin quảng bá này luôn là bên chịu thiệt thòi.
Cũng theo Tiến sĩ Phương, nếu cố tình sử dụng các danh hiệu mang tính chất “ảo” để thu hút người học thực chất là một hình thức đánh lừa thí sinh và gia đình họ.
“Áp lực tuyển sinh là nguyên nhân khiến một số trường tìm cách gia tăng nguồn tuyển và nguồn thu, thậm chí chấp nhận quảng bá những thông tin không đúng thực tế. Việc chậm cập nhật thông tin dẫn đến quảng bá sai lệch như vậy chẳng khác gì hành vi lừa dối người học.
Sự ngộ nhận từ các danh hiệu như kỹ sư hay cử nhân tạo ra sức hút rất lớn với phụ huynh và học sinh, dễ bị lầm tưởng rằng tốt nghiệp cao đẳng cũng đồng nghĩa với việc đạt được danh hiệu tương đương tốt nghiệp đại học. Một số đơn vị khó tuyển sinh có thể lợi dụng sự thiếu thông tin này để lập lờ khái niệm, hứa hẹn học xong cao đẳng sẽ được liên thông hoặc nhận bằng kỹ sư. Điều này không chỉ làm tổn hại đến quyền lợi chính đáng của người học, mà còn làm suy giảm uy tín chung của toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp”, ông Phương bày tỏ.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Văn Tiến - Viện trưởng Viện Phát triển giáo dục nghề nghiệp và An sinh xã hội cho rằng, trong giai đoạn chuyển tiếp giữa quy định cũ và mới, việc giải thích rằng chậm trễ trong cập nhật thông tin có thể là sự “chối quanh” cho việc lỏng lẻo trong khâu quản lý điều hành và giám sát thông tin.
Hành vi đăng tải thông tin tuyển sinh không đúng này không chỉ đơn thuần là lỗi kỹ thuật hay sơ suất hành chính, mà còn tạo ra sự nhầm lẫn lớn đối với học sinh và các bậc phụ huynh trong quá trình tìm hiểu hệ đào tạo. Sức hút của các danh hiệu như kỹ sư hay cử nhân vốn dĩ rất lớn, khiến nhiều người lầm tưởng rằng mình sẽ được thụ hưởng chương trình và nhận văn bằng tương đương với trình độ đại học khi đăng ký theo học hệ cao đẳng.
Điều đáng lo ngại nhất là đa số người học và phụ huynh thường thiếu sự am hiểu sâu sắc về mặt pháp lý để có thể phân biệt chính xác giữa tên chương trình học, danh hiệu nghề nghiệp, trình độ đào tạo cũng như giá trị thực tế của văn bằng được cấp sau khi tốt nghiệp. Trong khi đó, việc theo học một khóa đào tạo là cả một hành trình kéo dài từ 2 đến 3 năm, đòi hỏi sự đầu tư không nhỏ về thời gian, công sức, tiền bạc lẫn cơ hội phát triển sự nghiệp tương lai. Chính vì lẽ đó, việc cung cấp thông tin tuyển sinh không chính xác hoặc lập lờ về văn bằng tuyệt đối không thể coi là một sơ suất truyền thông thông thường bởi điều này có thể tác động lâu dài đến quyền lợi chính đáng của người học.
Cơ sở giáo dục phải rà soát toàn bộ thông tin tuyển sinh, xây dựng cơ chế giám sát và tiếp nhận phản ánh của người học
Từ thực tế trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Văn Tiến cho rằng, để người học không phải gánh hậu quả do nhà trường sai sót quản lý thông tin, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cần kiên quyết vào cuộc để thanh, kiểm tra, yêu cầu cơ sở giáo dục gỡ bỏ ngay lập tức những nội dung quảng bá không đúng về văn bằng. Thậm chí cần xem xét xử lý vi phạm hành chính và buộc cơ sở đào tạo phải công khai đính chính, xin lỗi người học.
Thầy Tiến cũng đưa ra lời khuyên dành cho người học và các bậc phụ huynh, cần phải hết sức cảnh giác, chủ động tra cứu kỹ lưỡng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu chính xác thời điểm tuyển sinh với hiệu lực của luật để nắm bắt chuẩn xác giá trị pháp lý của văn bằng. Việc chủ động tìm hiểu rõ ràng quyền lợi và bản chất của văn bằng sẽ giúp học sinh tránh được những rủi ro hiểu nhầm không đáng có, bảo vệ quyền lợi thiết thực của bản thân trước các thông tin quảng bá thiếu cập nhật trong bối cảnh hệ thống pháp luật giáo dục luôn được điều chỉnh và hoàn thiện.
Đồng quan điểm, theo Tiến sĩ Lê Đông Phương, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường các biện pháp can thiệp và áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính đã được quy định rõ trong lĩnh vực giáo dục. Trong bối cảnh các trường đang được giao quyền tự chủ ngày càng cao, trách nhiệm cốt lõi vẫn thuộc về chính nội tại cơ sở đào tạo. Mỗi nhà trường phải tự xây dựng bộ phận đầu mối thẩm định thông tin minh bạch, chính xác trước khi công bố.
Về phía người học, cần hết sức cẩn trọng trong việc tra cứu, đối chiếu thông tin tuyển sinh. Học sinh không nên tin theo các lời quảng bá một chiều mà cần chủ động tham khảo ý kiến từ các thầy cô tại trường trung học phổ thông hoặc các chuyên gia am hiểu về giáo dục. Bên cạnh đó, các trường trung học phổ thông cũng cần đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp để giúp học sinh hiểu đúng tên gọi và giá trị pháp lý của từng loại văn bằng. Việc tự trang bị kiến thức và xác minh từ các nguồn chính thống sẽ là giải pháp hiệu quả nhất giúp người học tránh khỏi những thông tin thiếu cập nhật và tình trạng trục lợi tuyển sinh hiện nay.
Trong khi đó, để khắc phục tình trạng trên, theo thầy Trần Anh Tuấn, cơ quan quản lý nhà nước không thể chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản mà cần tổ chức thực hiện, hướng dẫn và giám sát việc tuân thủ quy định của các cơ sở giáo dục.
Trước hết, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp cần có hướng dẫn cụ thể để các trường hiểu rõ những thay đổi về trình độ đào tạo, tên gọi văn bằng, chứng chỉ và cách thức thể hiện trong thông báo tuyển sinh, đề án tuyển sinh, website, tài liệu tư vấn và các phương tiện truyền thông. Đặc biệt, cần hướng dẫn rõ việc xử lý các khóa tuyển sinh trước ngày 01/01/2026 theo quy định chuyển tiếp tại khoản 3 Điều 45 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025. Điều này giúp các trường tránh hai khuynh hướng: tiếp tục quảng bá không đúng quy định mới hoặc hiểu sai rằng mọi quyền lợi về văn bằng của người học theo chương trình cũ đều bị chấm dứt.
Đồng thời, yêu cầu các cơ sở giáo dục nghề nghiệp rà soát toàn bộ thông tin tuyển sinh. Việc rà soát không chỉ giới hạn ở trang chủ website mà phải bao gồm các trang tuyển sinh, bài viết quảng cáo, tài liệu tư vấn, ấn phẩm truyền thông, thông tin trên mạng xã hội và các kênh liên kết tuyển sinh.
Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế giám sát và tiếp nhận phản ánh của người học. Cơ quan quản lý có thể tổ chức kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất các nội dung tuyển sinh được công bố trên môi trường mạng; thiết lập đầu mối tiếp nhận phản ánh và công khai kết quả xử lý. Người học có thể kiểm chứng thông tin về ngành nghề, trình độ đào tạo, điều kiện tuyển sinh và văn bằng sau tốt nghiệp bằng những nguồn thông tin chính thống.
Mục tiêu cuối cùng không phải là xử phạt được bao nhiêu trường, mà là tạo ra cơ chế để các trường chủ động tuân thủ pháp luật và người học không phải gánh chịu hậu quả từ những sai sót trong quản lý của cơ sở đào tạo.