Dự kiến một số ngành điện, cơ khí vào danh mục ngành nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm: CSGDNN nói gì?

07/11/2026 06:24
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, việc bổ sung các ngành như Bảo trì thiết bị cơ điện, Cơ khí xây dựng vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là phù hợp với thực tiễn, hứa hẹn thu hút người học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu.

Đáng chú ý, trong danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, dự thảo bổ sung thêm các ngành thuộc lĩnh vực kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật như: Bảo trì thiết bị cơ điện, Cơ khí xây dựng và Cơ - Điện nông nghiệp.

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, việc bổ sung các ngành kể trên vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là phù hợp với thực tiễn, hứa hẹn nâng cao hiệu quả tuyển sinh.

Người học thường xuyên phải tiếp xúc với điện, kim loại và thiết bị máy móc nặng, tiềm ẩn rủi ro với sức khỏe

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trần Công Đức - Trưởng khoa, khoa Cơ khí, Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore cho rằng, việc bổ sung ngành Bảo trì thiết bị cơ điện vào danh mục ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là hoàn toàn phù hợp với tính chất công việc thực tế.

Theo thầy Đức, trong quá trình làm việc, người lao động thường xuyên phải tiếp xúc với dầu mỡ, các hệ thống truyền tải điện, thiết bị máy móc nặng và các chất tẩy rửa. Bên cạnh đó, công việc bảo trì còn liên quan đến hoạt động cắt gọt kim loại để sửa chữa, bảo dưỡng máy móc hư hỏng; sử dụng các thiết bị nâng hạ như tời, ba lăng để di chuyển máy móc, thiết bị. Những yếu tố này khiến nghề Bảo trì thiết bị cơ điện có tính chất nặng nhọc, độc hại tương tự một số ngành thuộc lĩnh vực gia công kim loại.

Về thời lượng thực hành, Thạc sĩ Trần Công Đức cho biết nhà trường chưa có con số thống kê chính xác tỷ lệ các nội dung thực hành thuộc nhóm công việc nặng nhọc, độc hại. Tuy nhiên, ngoại trừ một số môn học cơ sở như đo lường, phần lớn hoạt động thực hành của ngành đều gắn với việc tiếp xúc trực tiếp với máy móc, thiết bị và các yếu tố đặc thù của nghề.

Đối với chương trình đào tạo trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, thời lượng thực hành chiếm gần 70% tổng thời gian đào tạo; trong đó, khoảng 80% nội dung thực hành có liên quan đến các công việc mang tính chất nặng nhọc, độc hại. Như vậy, theo đánh giá của thầy Đức, ngành Bảo trì thiết bị cơ điện đáp ứng tiêu chí về tỷ lệ thời gian thực hành đối với nhóm ngành, nghề này.

Ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là ngành, nghề đáp ứng đầy đủ cả 02 tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: Thuộc danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Tiêu chí 2: Có tổng thời gian người học trực tiếp thực hành các công việc ở mức nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên chiếm từ 50% trở lên so với tổng thời gian thực hành của chương trình đào tạo hoặc có thời gian thực hành, thực hiện công việc ở mức đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chiếm từ 30% trở lên so với tổng thời gian thực hành trong chương trình đào tạo.

Trường hợp chưa đạt tỷ lệ trên nhưng quá trình thực hành, thực hiện các công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại ở mức cao, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, an toàn của người học thì được xem xét trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro và đặc thù của ngành, nghề.

Đồng quan điểm, Thạc sĩ Nguyễn Minh Tân - Trưởng khoa, khoa Điện - Tự động hóa, Trường Cao đẳng Cơ điện Nông nghiệp và Môi trường đánh giá, xét về tính chất chuyên môn, việc bổ sung các ngành nghề liên quan đến cơ điện vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như Bảo trì thiết bị cơ điện hay Cơ - điện nông nghiệp là phù hợp.

Thầy Tân cho rằng, người học các ngành này phải tiếp xúc với thiết bị điện, dầu mỡ, thực hiện các công việc hàn thiếc..., tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì vậy, nếu chương trình đào tạo có các mô đun, môn học và tính chất công việc tương đồng với những ngành nghề đã được hưởng chế độ thì các ngành này cũng nên được xem xét bổ sung vào danh mục.

Từ thực tiễn đào tạo tại trường, Thạc sĩ Nguyễn Minh Tân cho biết, thời lượng thực hành đối với các ngành nghề liên quan đến điện chiếm trên 70% tổng thời gian đào tạo. Đây là đặc thù của nhóm ngành kỹ thuật, đòi hỏi người học thường xuyên tiếp xúc với máy móc, thiết bị và thực hiện các thao tác chuyên môn.

Chính vì vậy, trước khi học các môn chuyên ngành, sinh viên đều phải được trang bị kiến thức về an toàn lao động như môn An toàn điện; An toàn điện, điện lạnh nhằm bảo đảm an toàn cho người học và thiết bị trong quá trình thực hành.

Cũng theo Trưởng khoa, khoa Điện - Tự động hóa, Trường Cao đẳng Cơ điện Nông nghiệp và Môi trường, để việc bổ sung ngành nghề vào danh mục nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được triển khai thực chất, cần xây dựng các tiêu chí cụ thể.

Trên cơ sở đó, các cơ sở đào tạo có thể rà soát, đối chiếu tính chất công việc, chương trình và nội dung thực hành của từng ngành để xác định mức độ đáp ứng. Các tiêu chí này cần được nghiên cứu, xây dựng bởi cơ quan có chuyên môn và thẩm quyền, bảo đảm tính khoa học, chính xác và phù hợp với thực tế đào tạo.

xuong-bao-tri.jpg
Sinh viên ngành Bảo trì thiết bị cơ điện tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore. Ảnh: website nhà trường

Với ngành Cơ khí xây dựng, Thạc sĩ Phạm Thành Đạt - Trưởng khoa Cơ khí, Trường Cao đẳng Xây dựng Công trình Đô thị đồng tình với việc bổ sung ngành này vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Theo thầy Đạt, người học ngành Cơ khí xây dựng trong quá trình thực hành thường xuyên phải tiếp xúc với các loại máy móc, thiết bị cơ khí, thực hiện công việc hàn, xì nên tiềm ẩn nguy cơ tai nạn lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe.

Về tiêu chí thời lượng thực hành, Trưởng khoa Cơ khí, Trường Cao đẳng Xây dựng Công trình Đô thị cho biết, các chương trình đào tạo ngành Cơ khí xây dựng hiện nay cơ bản đáp ứng tỷ lệ thời gian thực hành đối với những công việc nặng nhọc, độc hại theo dự thảo đề xuất.

Đánh giá về nhu cầu nhân lực, thầy Đạt cho biết, thị trường hiện có nhu cầu rất lớn đối với lao động ngành Cơ khí xây dựng. Tuy nhiên, công tác tuyển sinh của ngành vẫn chưa đạt kỳ vọng do người học còn tâm lý e ngại những công việc nặng nhọc, độc hại, có xu hướng lựa chọn các ngành nghề nhẹ nhàng hơn. Điều này dẫn đến cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa thực sự tương thích với nhu cầu của thị trường lao động.

Vì vậy, nhà trường kỳ vọng việc bổ sung ngành Cơ khí xây dựng vào danh mục sẽ đi kèm những chính sách hỗ trợ, chế độ đãi ngộ phù hợp, góp phần thu hút người học và đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp.

“Nếu ngành Cơ khí xây dựng được bổ sung vào danh mục ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, người học sẽ có thêm cơ hội tiếp cận các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhằm giảm bớt chi phí học tập. Đây cũng là một trong những quyền lợi thiết thực giúp khuyến khích người học lựa chọn ngành nghề này.

Bên cạnh đó, cần có chính sách tăng cường kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp để học sinh, sinh viên được thụ hưởng các chế độ đãi ngộ ngay trong quá trình học tập, đồng thời có mạng lưới doanh nghiệp liên kết, sẵn sàng tuyển dụng sau khi tốt nghiệp, bảo đảm cơ hội việc làm phù hợp”, Thạc sĩ Phạm Thành Đạt bày tỏ.

848027523-1650578436700604-6436541259603763402-n-1.jpg
Sinh viên khoa Điện - Tự động hóa, Trường Cao đẳng Cơ điện Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: website nhà trường

Nhu cầu nhân lực lớn, mong có thêm chính sách hỗ trợ để thu hút người học

Đánh giá về tác động của chính sách, Thạc sĩ Trần Công Đức nhấn mạnh, việc đưa ngành Bảo trì thiết bị cơ điện vào danh mục ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ý nghĩa thiết thực đối với người học, giảng viên và người lao động sau khi tốt nghiệp.

Theo Trưởng khoa, khoa Cơ khí, Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, đây là ngành nghề có nhu cầu nhân lực lớn, không chỉ từ phía doanh nghiệp mà còn ở nhiều lĩnh vực sản xuất, cơ khí và điện công nghiệp. Thực tế, nhiều học sinh, phụ huynh mong muốn lựa chọn ngành học này bởi cơ hội việc làm sau tốt nghiệp khá rộng mở.

Tuy nhiên, việc ngành chưa thuộc danh mục nghề nặng nhọc, độc hại cũng ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh, nhất là với những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không đủ khả năng trang trải chi phí học tập. Trong khi đó, theo phản hồi của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp, đây là ngành tương đối dễ tìm việc làm và đáp ứng tốt nhu cầu tuyển dụng của thị trường lao động.

Không chỉ người học, đội ngũ giảng viên cũng cần được quan tâm về chế độ đãi ngộ tương xứng.

“Trong quá trình giảng dạy, giảng viên thường xuyên tiếp xúc với các cơ cấu máy móc có trọng lượng lớn, dầu mỡ, chất tẩy rửa và những yếu tố độc hại khác.

Do đó, nếu ngành được đưa vào danh mục nghề nặng nhọc, độc hại, giảng viên trực tiếp giảng dạy cũng có cơ sở để được hưởng các chế độ, phụ cấp tương ứng với tính chất công việc”, Trưởng khoa, khoa Cơ khí, Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore bày tỏ.

Để bảo đảm quyền lợi cho người học và nâng cao chất lượng đào tạo, Thạc sĩ Trần Công Đức đề xuất cần có chính sách giảm học phí đối với người học ngành Bảo trì thiết bị cơ điện, tương tự các ngành, nghề nặng nhọc, độc hại khác.

Đồng thời, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần được quan tâm đầu tư, bổ sung trang thiết bị đào tạo hiện đại, nhất là các thiết bị đo kiểm độ chính xác, dụng cụ hỗ trợ nâng hạ và các phương tiện phục vụ giảng dạy, thực hành.

Theo đó, việc đầu tư này không chỉ giúp bảo đảm điều kiện đào tạo mà còn giúp người học tiếp cận với công nghệ, thiết bị thực tế, đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc sau khi tốt nghiệp.

dd01.png
Hoạt động thực hành của sinh viên ngành Điện tại Trường Trường Cao đẳng Xây dựng Công trình Đô thị. Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, theo Thạc sĩ Phạm Thành Đạt, để việc bổ sung danh mục các ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thực sự có tác động hiệu quả, cần xây dựng đồng bộ các cơ chế hỗ trợ, trong đó chú trọng trách nhiệm và sự tham gia của doanh nghiệp sử dụng lao động vào quá trình đào tạo.

Thực tế hiện nay, phần lớn doanh nghiệp vẫn có xu hướng tuyển dụng lao động đã qua đào tạo một cách độc lập, thay vì phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngay từ đầu. Trong khi đó, cần thúc đẩy mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đặc biệt là đào tạo theo đơn đặt hàng, qua đó gắn quá trình đào tạo với nhu cầu tuyển dụng thực tế.

Đề cập đến nhu cầu nhân lực, thầy Đạt đánh giá, các ngành kỹ thuật, đặc biệt là điện và cơ khí, hiện có nhu cầu tuyển dụng rất lớn. Theo khảo sát của nhà trường, sinh viên các ngành này gần như được doanh nghiệp tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp; nhiều đơn vị thường xuyên liên hệ với trường để tìm kiếm nhân lực. Do đó, bên cạnh chính sách hỗ trợ học phí cho người học, cần quan tâm hơn đến chế độ, chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

Dù vậy, công tác tuyển sinh hệ cao đẳng vẫn gặp không ít khó khăn, đặc biệt tại khu vực miền Bắc. Theo Trưởng khoa Cơ khí, Trường Cao đẳng Xây dựng Công trình Đô thị, một trong những nguyên nhân xuất phát từ tâm lý coi trọng bằng đại học của một bộ phận phụ huynh và người học. Trong khi đó, các trường đại học có chỉ tiêu tuyển sinh lớn, điểm chuẩn tương đối thấp, khiến nhiều thí sinh ưu tiên lựa chọn con đường đại học, còn số lượng đăng ký học nghề chưa nhiều.

Vì vậy, việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ người học và bảo đảm quyền lợi cho những ngành nghề có tính chất lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cũng là một giải pháp góp phần nâng cao sức hấp dẫn của giáo dục nghề nghiệp.

Đình Nam