Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo Thông tư quy định danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu để lấy ý kiến.
Một điểm đáng chú ý là trong danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, dự thảo bổ sung thêm một số ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe như Kỹ thuật phục hồi chức năng hay Kỹ thuật hình ảnh y học.
Nội dung này đang nhận được sự quan tâm của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo các ngành lĩnh vực sức khỏe, với quan điểm việc bổ sung hai ngành này vào danh mục là phù hợp, đồng thời đề xuất chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo sức khỏe người học.
Người học phải tiếp xúc với nguồn độc hại, tai nạn và áp lực tâm lý nghề nghiệp
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ, Dược sĩ Hoàng Đức Luận - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y Dược Tuệ Tĩnh đánh giá, việc dự kiến bổ sung ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là phù hợp với đặc thù đào tạo và môi trường thực hành nghề nghiệp.
Theo thầy Luận, đây là ngành đào tạo có thời lượng thực hành, thực tập lâm sàng tương đối lớn. Người học phải tiếp xúc trực tiếp với người bệnh; thực hiện các kỹ thuật vận động trị liệu, vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu; hỗ trợ nâng đỡ, di chuyển người bệnh; sử dụng các thiết bị điện trị liệu, nhiệt trị liệu, siêu âm trị liệu, kéo giãn và các tác nhân vật lý khác.
Quá trình này tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm, chấn thương cơ – xương – khớp, tai nạn do thiết bị, điện, nhiệt, trượt ngã và áp lực tâm lý nghề nghiệp.
Cụ thể, sinh viên có thể phải tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, dịch tiết và các nguồn lây nhiễm; thực hiện các thao tác nâng, đỡ, xoay trở, di chuyển người bệnh, tiềm ẩn nguy cơ chấn thương cột sống và hệ cơ – xương – khớp. Trong quá trình hướng dẫn người bệnh tập đi, tập vận động, tập thăng bằng, người học cũng có thể đối mặt với nguy cơ trượt ngã hoặc tai nạn.
Bên cạnh đó, sinh viên còn được thực hành sử dụng các thiết bị điện trị liệu, nhiệt trị liệu, siêu âm trị liệu, kéo giãn và những thiết bị chuyên dụng trong phục hồi chức năng.
Ngoài ra, khi thực tập tại các khoa lâm sàng, người học có thể tiếp xúc với hóa chất sát khuẩn, chất thải y tế và môi trường có nguy cơ lây nhiễm. Đặc thù công việc cũng đòi hỏi phải duy trì những tư thế gò bó, lặp đi lặp lại động tác, sử dụng sức lực trong thời gian dài. Ngoài những tác động về thể chất, việc thường xuyên tiếp xúc với người bệnh nặng, người khuyết tật hoặc người có hạn chế về nhận thức, giao tiếp cũng tạo áp lực tâm lý nhất định đối với người học.
“Những yếu tố trên là cơ sở thực tiễn quan trọng để xem xét đưa ngành vào danh mục. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa “ngành đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm” và “nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của người lao động”.
Đối với ngành đào tạo, việc đánh giá căn cứ vào toàn bộ quá trình thực hành của chương trình. Đối với người lao động sau tốt nghiệp, chế độ phải căn cứ vào vị trí việc làm, công việc thực tế, nơi làm việc và mức độ tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, độc hại.
Việc xác định không nên chỉ dựa vào tên ngành hoặc cảm nhận chung, mà phải căn cứ vào các yếu tố cụ thể: nội dung chương trình; tổng thời lượng thực hành, thực tập; công việc người học trực tiếp thực hiện; môi trường thực hành; mức độ tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, có hại; tần suất, thời gian tiếp xúc và kết quả đánh giá rủi ro.
Việc đưa ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng vào danh mục sẽ tạo cơ sở pháp lý thống nhất để bảo vệ người học, đồng thời phản ánh đúng tính chất đặc thù của đào tạo nhân lực phục hồi chức năng”, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y Dược Tuệ Tĩnh bày tỏ.
Cũng theo dự thảo Thông tư, ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải đáp ứng đồng thời hai tiêu chí.
Thứ nhất, thuộc danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Thứ hai, tổng thời gian người học trực tiếp thực hành các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên chiếm từ 50% tổng thời gian thực hành của chương trình đào tạo; hoặc thời gian thực hành các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chiếm từ 30% trở lên.
Trường hợp chưa đạt các tỷ lệ trên nhưng quá trình thực hành có yếu tố nguy hiểm, độc hại ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và an toàn của người học, ngành, nghề vẫn có thể được xem xét trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro và đặc thù.
Tiến sĩ, Dược sĩ Hoàng Đức Luận cho biết, xét về cấu trúc chương trình đào tạo, ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng có tỷ trọng thực hành và thực tập nghề nghiệp khá lớn. Người học không chỉ thực hành các kỹ thuật chuyên môn tại trường, tham gia thực hành tiền lâm sàng mà còn trực tiếp thực tập tại bệnh viện và thực tập tốt nghiệp. Với đặc thù đó, chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng có khả năng đáp ứng các tiêu chí định lượng được nêu trong dự thảo.
Dù vậy, theo Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y Dược Tuệ Tĩnh, để xác định chính xác chương trình có đạt tỷ lệ 50% hoặc 30% theo quy định hay không, các cơ sở đào tạo cần rà soát kỹ lưỡng từng chương trình và lập bảng đối chiếu cụ thể.
Thầy Luận nhấn mạnh, không thể mặc nhiên tính toàn bộ thời lượng thực hành là thời gian người học tiếp xúc với công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Việc xác định cần căn cứ vào tổng thời gian thực hành của chương trình, số giờ người học trực tiếp thực hiện từng công việc, tính chất công việc thuộc nhóm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đồng thời xem xét mức độ, cường độ và thời gian tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm, có hại.
Đánh giá về các ngưỡng tỷ lệ trong dự thảo, thầy Luận cho rằng, tiêu chí 50% và 30% là căn cứ định lượng cần thiết, góp phần hạn chế tình trạng xác định ngành nghề dựa trên cảm tính. Nhưng để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình triển khai, cơ quan quản lý cần ban hành phương pháp tính cụ thể, kèm theo ví dụ minh họa và hướng dẫn riêng đối với các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe. Nếu thiếu hướng dẫn chi tiết, mỗi cơ sở đào tạo có thể hiểu và áp dụng cách tính khác nhau, dẫn đến thiếu đồng nhất trong việc xác định đối tượng.
Đồng thời, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y Dược Tuệ Tĩnh cho rằng, đối với những ngành chưa đáp ứng ngưỡng tỷ lệ định lượng nhưng có hoạt động thực hành tiềm ẩn nguy cơ cao, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và an toàn của người học, cần có cơ chế xem xét riêng trên cơ sở đánh giá rủi ro thực tế.
Trong khi đó, với ngành Kỹ thuật hình ảnh y học, theo Thạc sĩ Tô Minh Tuấn - giảng viên phụ trách bộ môn Điều dưỡng, khoa Y học cơ sở, Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình, việc bổ sung ngành này vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là hoàn toàn phù hợp với đặc thù chuyên môn và môi trường làm việc của ngành.
Thầy Tuấn cho rằng, đây là lĩnh vực đào tạo có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng tia X, các thiết bị phát tia và nguồn phóng xạ trong hoạt động chẩn đoán hình ảnh. Vì vậy, ngay từ quá trình học tập, thực hành, sinh viên đã có thể phải tiếp xúc với những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt trong thời gian thực tập tại các khoa Chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện và cơ sở y tế.
“Đặc thù của ngành Kỹ thuật hình ảnh y học không chỉ thể hiện ở môi trường làm việc mà còn ở yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt mức độ tiếp xúc với các yếu tố có hại. Thực tế, ngay cả đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc trong lĩnh vực này cũng phải được trang bị, sử dụng thiết bị đo phóng xạ để theo dõi mức độ tiếp xúc, từ đó có những điều chỉnh phù hợp về thời gian làm việc và bố trí luân chuyển vị trí.
Điều này cho thấy những nguy cơ nghề nghiệp liên quan đến phóng xạ là vấn đề cần được quan tâm không chỉ đối với người lao động mà còn đối với sinh viên trong quá trình đào tạo, nhất là khi tham gia thực hành trực tiếp tại các cơ sở y tế”, giảng viên phụ trách bộ môn Điều dưỡng, khoa Y học cơ sở, Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình chia sẻ.
Đối chiếu với tiêu chí về thời lượng thực hành, Thạc sĩ Tô Minh Tuấn cho biết chương trình ngành Kỹ thuật hình ảnh y học tại nhà trường hiện có thời lượng thực hành chiếm hơn 60%. Theo đó, tỷ lệ này đáp ứng yêu cầu về thời lượng thực hành theo tiêu chí dự kiến. Bởi vậy, việc đưa ngành học vào danh mục không chỉ phù hợp với tính chất nghề nghiệp mà còn có cơ sở từ thực tế tổ chức đào tạo tại nhà trường.
Đề xuất có thêm quy định, chính sách nhằm đảm bảo sức khỏe người học và cơ chế chuyển tiếp
Về nhu cầu nhân lực, Thạc sĩ Tô Minh Tuấn nhận định, Kỹ thuật hình ảnh y học vẫn là ngành có nhu cầu tuyển dụng lớn trong hệ thống y tế, bởi các bệnh viện đều cần có bộ phận chuyên môn thực hiện nhiệm vụ chẩn đoán hình ảnh. Hoạt động này giữ vai trò cần thiết trong công tác khám, chẩn đoán và điều trị bệnh, do đó nhu cầu về đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản vẫn hiện hữu.
Giảng viên phụ trách bộ môn Điều dưỡng, khoa Y học cơ sở, Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình cho rằng, khi ngành Kỹ thuật hình ảnh y học được bổ sung vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, một trong những lợi ích thiết thực là người học có thể được hưởng chính sách hỗ trợ học phí theo quy định đối với nhóm ngành, nghề đào tạo có tính chất độc hại, nguy hiểm.
Chính sách này sẽ góp phần giảm bớt áp lực tài chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người học khi lựa chọn theo đuổi ngành nghề có yêu cầu chuyên môn đặc thù và môi trường thực hành tiềm ẩn rủi ro.
Tuy nhiên, thầy Tuấn cũng đánh giá, hỗ trợ học phí là chưa đủ, bởi vấn đề quan trọng không kém là phải có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ sức khỏe người học trong suốt quá trình đào tạo. Trong đó, cần chú trọng kiểm soát thời gian sinh viên thực hành, thực tập tại những vị trí có tiếp xúc với phóng xạ.
Thầy Tuấn lấy ví dụ, nếu sinh viên một số chuyên ngành khác có thể hoạt động thực tập tại một vị trí trong khoảng 1-2 tiếng/ngày thì đối với những vị trí có yếu tố phóng xạ, cần nghiên cứu quy định thời gian tiếp xúc ngắn hơn, đồng thời có phương án luân chuyển phù hợp.
Qua đó, vừa bảo đảm sinh viên được tiếp cận với môi trường làm việc thực tế, tích lũy kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, vừa hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe do tiếp xúc kéo dài với các yếu tố độc hại.
“Từ góc độ đào tạo, thầy Tuấn cho rằng, việc bổ sung ngành Kỹ thuật hình ảnh y học vào danh mục cần đi kèm với những chính sách hỗ trợ thực chất, không chỉ dừng lại ở quyền lợi về học phí mà còn phải quan tâm đến điều kiện thực hành, thời gian tiếp xúc với môi trường có phóng xạ và các biện pháp bảo đảm an toàn.
Ngoài ra, để thu hút người học và bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công việc, các đơn vị sử dụng lao động cần có chính sách, chế độ đãi ngộ phù hợp, tương xứng với tính chất và mức độ rủi ro của nghề nghiệp”, giảng viên phụ trách bộ môn Điều dưỡng, khoa Y học cơ sở, Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình cho hay.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ, Dược sĩ Hoàng Đức Luận nhấn mạnh, việc bổ sung ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ có tác động tích cực đến công tác tuyển sinh, đào tạo cũng như bảo đảm quyền lợi cho người học.
Trước hết, người học có cơ sở được xem xét hưởng chính sách giảm 70% học phí theo quy định hiện hành đối với một số ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Đây là sự hỗ trợ thiết thực, góp phần thu hút người học vào ngành đang có nhu cầu nhân lực ngày càng cao.
Bên cạnh chính sách học phí, thầy Luận cho rằng cần có thêm các chính sách hỗ trợ người học như khám và theo dõi sức khỏe định kỳ; tiêm chủng phòng bệnh, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân; tập huấn về kiểm soát nhiễm khuẩn, an toàn thiết bị và phòng ngừa tai nạn. Đồng thời, cần có bảo hiểm tai nạn trong thời gian thực hành, thực tập; chế độ bồi dưỡng phù hợp khi người học trực tiếp thực hành trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, độc hại và bảo đảm các cơ sở thực hành đáp ứng yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động.
“Đối với giảng viên, đặc biệt là giảng viên trực tiếp hướng dẫn thực hành, cần có chế độ phụ cấp, bồi dưỡng tương xứng. Hiện nay, chính sách phụ cấp nặng nhọc, độc hại đối với nhà giáo chủ yếu áp dụng trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp đối với cả cơ sở ngoài công lập.
Đối với người lao động sau tốt nghiệp, quyền lợi về phụ cấp, bồi dưỡng, khám sức khỏe, thời giờ làm việc hoặc các chế độ an toàn, vệ sinh lao động phải được xác định theo công việc và điều kiện lao động thực tế, không chỉ căn cứ vào tên văn bằng”, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y Dược Tuệ Tĩnh nêu quan điểm.
Từ góc độ cơ sở đào tạo, Tiến sĩ, Dược sĩ Hoàng Đức Luận đề xuất, trước hết, cơ quan quản lý cần sớm ban hành danh mục chính thức, trong đó xác định rõ mã ngành, tên ngành và trình độ đào tạo. Với ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng, dự thảo xác định mã ngành 720603, áp dụng ở trình độ trung cấp và cao đẳng.
Đồng thời, cần có hướng dẫn thống nhất về cách xác định thời gian thực hành, phân loại công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, phương pháp tính tỷ lệ 50% và 30%, cũng như cách xem xét những trường hợp có nguy cơ cao nhưng chưa đạt ngưỡng định lượng. Cơ quan quản lý nên ban hành biểu mẫu chung để các cơ sở đào tạo đối chiếu môn học, mô-đun, nội dung thực hành, số giờ và yếu tố nguy hiểm, độc hại tương ứng.
Một vấn đề cần quan tâm là cơ chế chuyển tiếp đối với sinh viên đang theo học. Theo thầy Luận, không nên chỉ áp dụng chính sách cho các khóa tuyển sinh sau ngày Thông tư có hiệu lực, bởi sinh viên cùng ngành, cùng môi trường thực hành nhưng có thể được hưởng quyền lợi khác nhau. Thầy đề xuất cho phép sinh viên đang học được áp dụng chính sách mới từ học kỳ tiếp theo sau khi Thông tư có hiệu lực.
Ngoài ra, cần bảo đảm kinh phí giảm học phí, quy định rõ việc cấp bù cho cơ sở công lập và tư thục; đồng thời đồng bộ danh mục ngành đào tạo với danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong lĩnh vực lao động. Việc công nhận ngành đào tạo cũng không đồng nghĩa mọi vị trí việc làm sau tốt nghiệp đều được hưởng chế độ như nhau.