Cán bộ quản lý, GV đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có được hưởng trợ cấp thôi việc không?

01/09/2026 06:46
Bùi Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật không những không được hưởng trợ cấp thôi việc mà còn phải bồi thường, hoàn trả các khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Trong thực tế công tác tại các cơ sở giáo dục, không ít cán bộ quản lý, giáo viên vẫn còn đủ điều kiện về sức khỏe, năng lực chuyên môn và thời gian công tác để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, vì những lý do khách quan liên quan đến hoàn cảnh gia đình, điều kiện cá nhân, thay đổi nơi cư trú hoặc định hướng công việc, một số người có nguyện vọng xin nghỉ việc trước khi đến tuổi nghỉ hưu.

Trong trường hợp này, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc theo đúng quy định của pháp luật là một trong những phương án được cán bộ quản lý, giáo viên quan tâm. Cùng với đó, câu hỏi được đặt ra là: người chủ động xin nghỉ việc có được hưởng trợ cấp thôi việc hay không, thời gian nào được tính để hưởng và mức trợ cấp được xác định như thế nào?

anh-thoi-viec.png
Ảnh minh họa

Chế độ hưởng trợ cấp thôi việc đối với cán bộ, viên chức có thể được nhận khi nghỉ việc

Căn cứ tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định về trợ cấp thôi việc như sau:

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo đó, tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

Theo như quy định trên thì người lao động làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên thì sẽ được nhận tiền trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp thôi việc

Tại khoản 1 Điều 51 Nghị định 259/2026/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức quy định các trường hợp thôi việc như sau:

Thuộc một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật lao động;

Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc hoặc đương nhiên bị buộc thôi việc theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Luật Viên chức số 129/2025/QH15;

Không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo kết quả theo dõi, đánh giá thường xuyên mà không có vị trí việc làm thấp hơn để tiếp tục bố trí; bị xếp loại chất lượng hằng năm ở mức không hoàn thành nhiệm vụ vì lý do chuyên môn, nghiệp vụ mà theo quy định thuộc trường hợp cho thôi việc;

Do sắp xếp, tổ chức lại cơ quan, tổ chức, đơn vị mà không còn vị trí việc làm phù hợp hoặc do cơ quan, tổ chức, đơn vị bị giải thể theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 53 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với viên chức thôi việc như sau:

Viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật lao động, pháp luật về bảo hiểm xã hội và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Việc xác định các trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp; tiền lương tháng hiện hưởng, mức trợ cấp, cách tính mức trợ cấp, các nội dung khác liên quan đến chế độ, chính sách cho thôi việc được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động, pháp luật về bảo hiểm xã hội và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Các trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc:

Viên chức bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc;

Viên chức chưa phục vụ đủ thời gian theo cam kết;

Các trường hợp theo thỏa thuận trong hợp đồng;

Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật về ngành, lĩnh vực.

Trường hợp nào viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được hưởng trợ cấp thôi việc?

Tại khoản 1 Điều 53 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định Viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật lao động, pháp luật về bảo hiểm xã hội và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Và, tại khoản 3 Điều 53 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc gồm:

Viên chức bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc; Viên chức chưa phục vụ đủ thời gian theo cam kết; Các trường hợp theo thỏa thuận trong hợp đồng; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật về ngành, lĩnh vực,

Như vậy, trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động thực hiện hoặc do cơ quan sử dụng lao động thực hiện không thuộc trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc.

Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đều được hưởng trợ cấp thôi việc mà việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không được trái quy định của pháp luật.

Cụ thể, Căn cứ tại Điều 40 Bộ luật Lao động 2019 quy định nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì:

Không được trợ cấp thôi việc.

Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Do đó, nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật không những không được hưởng trợ cấp thôi việc mà còn phải bồi thường, hoàn trả các khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như thế nào là đúng luật?

Theo Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Và, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Bùi Nam