Quy hoạch còn 50-60 cơ sở đào tạo tiến sĩ: Cần tuyển chọn NCS "tinh hoa và chuẩn hóa chất lượng"

30/08/2026 06:22
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học đào tạo trình độ tiến sĩ, cần đề cao chất lượng đầu vào của nghiên cứu sinh, đồng thời xây dựng đội ngũ nghiên cứu có tính kế thừa và tăng cường các chương trình hợp tác.

Theo thống kê của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cả nước hiện có 131 cơ sở giáo dục đại học đào tạo đến trình độ tiến sĩ (trong đó có 111 cơ sở công lập). Thời gian tới, định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo là giảm còn 50 đến 60 cơ sở giáo dục đại học đào tạo tới trình độ tiến sĩ, theo Quyết định 2249/QĐ-BGDĐT phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Nội dung này đang nhận được sự quan tâm lớn của các cơ sở giáo dục đại học đào tạo trình độ tiến sĩ, với tinh thần hướng tới xây dựng môi trường nghiên cứu thực chất, thay vì chỉ tập trung vào quy mô tuyển sinh.

Đề cao chất lượng đầu vào của nghiên cứu sinh, chú trọng theo hướng "tinh hoa và chuẩn hóa chất lượng"

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Cường - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, việc quy hoạch thu hẹp còn khoảng 50–60 cơ sở đào tạo tiến sĩ đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ tư duy tuyển sinh, từ chú trọng “đủ số lượng” sang tuyển chọn theo hướng "tinh hoa và chuẩn hóa chất lượng".

Theo thầy Cường, bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện đầu vào theo Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT, nghiên cứu sinh cần được đánh giá toàn diện về năng lực nghiên cứu, trình độ ngoại ngữ cũng như mức độ cam kết dành thời gian cho hoạt động học thuật.

Về năng lực nghiên cứu, nghiên cứu sinh cần có đề cương nghiên cứu rõ ràng, khả thi và gắn với các hướng nghiên cứu, đề tài khoa học đang được triển khai tại cơ sở đào tạo. Những ứng viên đã có sản phẩm công bố khoa học trước khi dự tuyển có thể được ưu tiên trong quá trình xét tuyển, qua đó góp phần lựa chọn những người thực sự có năng lực và tiềm năng phát triển nghiên cứu.

Đối với trình độ ngoại ngữ, nghiên cứu sinh cần đáp ứng khả năng viết bài báo khoa học và trình bày báo cáo tại các hội thảo quốc tế. Đại diện nhà trường cho biết, chuẩn ngoại ngữ đầu vào cũng có thể được thiết kế linh hoạt, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực nghiên cứu.

Đặc biệt, nghiên cứu sinh cần có cam kết rõ ràng về thời gian và tinh thần nghiên cứu chuyên trách. Việc dành trọn thời gian tại phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu hoặc các nhóm nghiên cứu là yếu tố quan trọng để bảo đảm tiến độ thực hiện đề tài, chất lượng công trình khoa học và khả năng hoàn thành chương trình đúng yêu cầu.

Đây cũng là cơ sở để các cơ sở đào tạo tiến sĩ hướng tới xây dựng môi trường nghiên cứu thực chất, thay vì chỉ tập trung vào quy mô tuyển sinh.

510329357-1170512215118414-1875173639628541792-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Cường - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Cùng chia sẻ về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Anh Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long khẳng định, khi mạng lưới đào tạo tiến sĩ được quy hoạch theo hướng tinh gọn, tập trung, chất lượng đầu vào nghiên cứu sinh cần được xem là yếu tố then chốt.

Theo đó, đào tạo tiến sĩ không nên chạy theo số lượng mà cần ưu tiên tuyển chọn những người có năng lực, tư duy độc lập và tiềm năng nghiên cứu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, phương pháp nghiên cứu, ngoại ngữ và năng lực sử dụng công cụ số, trong đó có các công cụ hỗ trợ nghiên cứu bằng trí tuệ nhân tạo.

Bên cạnh các điều kiện theo quy định, các cơ sở đào tạo cần đánh giá thực chất đề xuất nghiên cứu, kinh nghiệm và năng lực nghiên cứu của ứng viên, cũng như mức độ phù hợp với nhóm nghiên cứu và người hướng dẫn.

“Mục tiêu của đào tạo tiến sĩ không phải là đào tạo được nhiều tiến sĩ hơn, mà là đào tạo những người có khả năng tạo ra tri thức mới, công bố các kết quả nghiên cứu có giá trị và từng bước trở thành những nhà nghiên cứu độc lập”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Anh Cang nhấn mạnh.

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long cho rằng, để đáp ứng yêu cầu về tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ, các cơ sở đào tạo cần nhìn nhận đây là một quá trình đầu tư tổng thể, lâu dài cho năng lực nghiên cứu, thay vì chỉ tập trung đáp ứng các điều kiện tối thiểu tại thời điểm mở ngành.

Trong đó, đội ngũ là nguồn lực quan trọng hàng đầu. Nhà trường cần xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và người hướng dẫn có trình độ chuyên môn cao, duy trì hoạt động nghiên cứu và công bố khoa học phù hợp với các hướng đào tạo; đồng thời hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh, có đội ngũ kế cận và tăng cường thu hút chuyên gia, nhà khoa học từ các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tham gia.

Bên cạnh nguồn lực con người, các trường cần đầu tư đồng bộ phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất và hạ tầng nghiên cứu, phù hợp với thế mạnh của từng ngành. Những lĩnh vực có tiềm năng phát triển cần được ưu tiên xây dựng phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, hệ thống thiết bị chuyên ngành và hạ tầng tính toán đủ năng lực để nghiên cứu sinh thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu.

Đặc biệt, cần tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp theo hướng cùng đầu tư, cùng khai thác và cùng phát triển. Doanh nghiệp có thể tham gia trang bị máy móc, dây chuyền công nghệ, phần mềm chuyên ngành hoặc hệ thống mô phỏng sát với thực tế sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tiếp cận thiết bị, dữ liệu và những bài toán thực tiễn.

pgs-ts-phan-anh-cang.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Anh Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. Ảnh: website nhà trường

Ngoài ra, dữ liệu và hạ tầng số cũng ngày càng trở thành cấu phần không thể thiếu của năng lực đào tạo tiến sĩ. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn phát triển nhanh, nghiên cứu sinh cần được tiếp cận các cơ sở dữ liệu khoa học trong nước và quốc tế, phần mềm chuyên ngành, kho dữ liệu nghiên cứu, hệ thống tính toán hiệu năng cao và các nền tảng phục vụ phân tích, mô phỏng.

Cùng với đó là nguồn kinh phí nghiên cứu ổn định, dài hạn để nghiên cứu sinh có điều kiện tham gia các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công bố kết quả nghiên cứu và từng bước phát triển năng lực nghiên cứu độc lập.

“Một điểm cần đặc biệt lưu ý là đầu tư cho đào tạo tiến sĩ phải gắn với nhu cầu thực tiễn. Các phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu và đề tài tiến sĩ không nên phát triển tách rời những vấn đề đang đặt ra trong sản xuất, doanh nghiệp và địa phương. Khi kết quả nghiên cứu có địa chỉ ứng dụng cụ thể, nhà trường không chỉ nâng cao giá trị của đào tạo tiến sĩ mà còn có thêm nguồn lực để tái đầu tư cho hoạt động nghiên cứu.

Đồng thời, cần có cơ chế đầu tư theo chu kỳ dài hạn. Chỉ khi đồng thời xây dựng được đội ngũ mạnh, nhóm nghiên cứu hoạt động thực chất, hạ tầng phù hợp, dữ liệu đầy đủ và nguồn kinh phí ổn định, các trường mới có thể hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo bền vững, thay vì chỉ đầu tư để đáp ứng các tiêu chí theo quy định”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Anh Cang nhấn mạnh.

Cần xây dựng đội ngũ nghiên cứu có tính kế thừa, tăng cường các chương trình hợp tác

Từ ngày 1/1/2027, nhiều quy định liên quan đến đào tạo trình độ tiến sĩ được bổ sung và siết chặt theo Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học (Thông tư số 53), được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 30/6/2026.

Để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ theo Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Cường nhận định, các cơ sở giáo dục đại học cần có chiến lược đầu tư đồng bộ, lâu dài vào các nguồn lực phục vụ nghiên cứu.

Trước hết, nhà trường cần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học chất lượng cao, trong đó chú trọng thu hút, giữ chân và phát triển các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ có trình độ chuyên môn cao, đồng thời hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh do các chuyên gia đầu ngành dẫn dắt.

Bên cạnh đội ngũ, hệ thống phòng thí nghiệm và hạ tầng kỹ thuật cũng cần được đầu tư tương xứng. Các trường cần nâng cấp phòng thí nghiệm hiện đại, xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm đạt chuẩn quốc tế, đồng thời trang bị các thiết bị phân tích, đo đạc chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu trong những lĩnh vực khoa học mũi nhọn.

Một nguồn lực quan trọng khác là cơ sở dữ liệu và hạ tầng số phục vụ nghiên cứu. Theo đó, các cơ sở đào tạo cần đầu tư bản quyền truy cập các thư viện số, cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế lớn như ScienceDirect, IEEE, Springer, Nature..., đồng thời phát triển hệ thống tính toán hiệu năng cao (HPC) để phục vụ xử lý dữ liệu lớn và các bài toán nghiên cứu chuyên sâu.

Cuối cùng, cần xây dựng quỹ hỗ trợ nghiên cứu bằng việc trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ để tài trợ học bổng cho nghiên cứu sinh, cấp kinh phí triển khai các đề tài có tiềm năng, cũng như hỗ trợ chi phí tham dự hội nghị, hội thảo và công bố các bài báo trên các tạp chí quốc tế.

Cũng theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong thời gian vừa qua, việc có quá nhiều cơ sở đào tạo, trong đó có nhiều cơ sở chưa thực sự đáp ứng được các điều kiện bảo đảm chất lượng, tham gia vào công tác đào tạo tiến sĩ đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và làm giảm uy tín đối với công tác đào tạo ở bậc học này.

Việc hạn chế số lượng cơ sở đào tạo tham gia đào tạo tiến sĩ theo Quyết định 2249/QĐ-BGDĐT sẽ góp phần loại bỏ các cơ sở đào tạo chưa đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng trong đào tạo tiến sĩ. Đồng thời, việc hạn chế số lượng cơ sở đào tạo tham gia đào tạo tiến sĩ cũng giúp Nhà nước tập trung nguồn lực để tạo ra các đại học nghiên cứu mạnh tầm cỡ khu vực, thúc đẩy năng lực nghiên cứu quốc gia tiệm cận với chuẩn mực quốc tế.

“Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội là trung tâm đào tạo và nghiên cứu uy tín cả nước về khoa học cơ bản. Hiện nhà trường có đội ngũ cán bộ khoa học gồm khoảng 400 cán bộ khoa học, trong đó có 152 cán bộ là giáo sư, phó giáo sư.

Hằng năm, các cán bộ của trường công bố khoảng 650 bài báo khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus, trong đó hơn 80% thuộc nhóm Q1, Q2. Trường định hướng trở thành trường đại học nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á, với các lĩnh vực chính nằm trong nhóm 500 trường hàng đầu thế giới vào năm 2035 và một số lĩnh vực đạt top 300 vào năm 2045.

Nhà trường xác định vai trò nòng cốt trong mạng lưới này với các định hướng chiến lược. Thứ nhất, trường tiếp tục phát huy thế mạnh của đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ có năng lực công bố quốc tế top đầu cả nước; đồng thời đầu tư trọng điểm cho các trung tâm nghiên cứu xuất sắc và phòng thí nghiệm dùng chung.

Thứ hai, trường áp dụng chuẩn đầu ra của Đại học Quốc gia Hà Nội tiệm cận chuẩn của các trường đại học tiên tiến thế giới nhằm duy trì chất lượng đào tạo tiến sĩ.

Thứ ba, trường tập trung đào tạo tiến sĩ trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược. Đối với khoa học cơ bản, định hướng của Nhà trường là giữ vững vị thế trụ cột trong các lĩnh vực Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học. Đối với công nghệ chiến lược, Trường đẩy mạnh đào tạo tiến sĩ thuộc các ngành công nghệ mũi nhọn như Công nghệ bán dẫn, Vật liệu tiên tiến, Khoa học dữ liệu, Viễn thám, Biến đổi khí hậu, Công nghệ sinh học thế hệ mới…

Thứ tư, trường đẩy mạnh hợp tác quốc tế, mở rộng các chương trình đồng hướng dẫn, cấp song bằng với các đại học quốc tế uy tín, đồng thời thu hút nghiên cứu sinh quốc tế đến làm nghiên cứu tại nhà trường”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Cường chia sẻ.

vnu-ts-loc-2.jpg
Nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Anh Cang nhấn mạnh điều kiện đào tạo tiến sĩ không nên được xem là trạng thái “đạt một lần” tại thời điểm mở ngành, mà phải được coi là năng lực cần duy trì, cập nhật và phát triển thường xuyên trong suốt quá trình đào tạo.

Do đó, các trường cần xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ đối với những điều kiện cốt lõi của chương trình, từ đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn, hoạt động của các nhóm nghiên cứu, số lượng và chất lượng công bố khoa học, đề tài nghiên cứu đến cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, dữ liệu, nguồn kinh phí và kết quả đào tạo. Việc đánh giá hằng năm sẽ giúp nhà trường sớm nhận diện những tiêu chí có nguy cơ suy giảm để kịp thời bổ sung nguồn lực.

Một trong những yêu cầu quan trọng là phải xây dựng được đội ngũ nghiên cứu kế cận, tránh để chương trình phụ thuộc quá nhiều vào một vài giáo sư hoặc người hướng dẫn chủ chốt. Các trường cần tạo điều kiện để giảng viên trẻ tham gia nhóm nghiên cứu, chủ trì đề tài, công bố khoa học và từng bước tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh. Đồng thời, nên chuyển từ mô hình “cá nhân hướng dẫn” sang “nhóm nghiên cứu hướng dẫn”, với sự tham gia của nhiều chuyên gia.

Bên cạnh đội ngũ, nhà trường cũng cần duy trì đầu tư thường xuyên cho hạ tầng và hoạt động nghiên cứu, không chỉ tập trung nguồn lực ở thời điểm mở ngành. Hệ thống phòng thí nghiệm, thiết bị, phần mềm, cơ sở dữ liệu và các hệ thống tính toán cần được cập nhật theo sự phát triển của khoa học và công nghệ. Đồng thời, cần bảo đảm nguồn kinh phí ổn định từ ngân sách nhà trường, các nhiệm vụ khoa học - công nghệ, doanh nghiệp và các chương trình hợp tác để duy trì hoạt động của các nhóm nghiên cứu.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Anh Cang cũng cho rằng các chương trình đào tạo tiến sĩ cần có cơ chế “cảnh báo sớm”. Khi số lượng người hướng dẫn giảm, hoạt động công bố và đề tài nghiên cứu suy giảm, cơ sở vật chất không còn đáp ứng hoặc chất lượng nghiên cứu sinh, luận án có dấu hiệu đi xuống, nhà trường phải chủ động điều chỉnh và bổ sung nguồn lực.

Đồng thời, việc tăng cường liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp sẽ giúp chia sẻ phòng thí nghiệm, thiết bị, dữ liệu và chuyên gia, nhất là trong những lĩnh vực chuyên sâu mà một cơ sở chưa đủ nguồn lực.

“Điều quan trọng là phải chuyển từ tư duy “kiểm tra điều kiện để được đào tạo” sang “quản trị năng lực đào tạo tiến sĩ theo chu kỳ liên tục”. Mỗi chương trình cần có kế hoạch phát triển đội ngũ, nhóm nghiên cứu, cơ sở vật chất, nguồn kinh phí và kết quả đầu ra trong trung và dài hạn.

Khi đó, việc duy trì đào tạo tiến sĩ không chỉ nhằm đáp ứng các quy định, mà quan trọng hơn là bảo đảm chương trình luôn có năng lực nghiên cứu thực chất, ổn định và khả năng tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị, đóng góp cho thực tiễn”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long bày tỏ.

Đình Nam