Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT ngày 17/02/2025 Quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.
Một trong những điểm mới của dự thảo là các chương trình đào tạo liên thông để cấp văn bằng trình độ đại học; chương trình đào tạo có sinh viên đăng ký học chương trình thứ hai; chương trình đào tạo có vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng, tổ chức hoặc quản lý đào tạo được xác định tại kết luận kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục định kỳ.
Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học, quy định này là cần thiết, song cần xác định rõ phạm vi đánh giá và cách thức triển khai để kiểm định đối với chương trình đào tạo liên thông và chương trình thứ hai thực sự trở thành công cụ cải tiến chất lượng.
Kiểm định định kỳ là cơ chế xác nhận độc lập
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, việc mở rộng yêu cầu kiểm định chất lượng định kỳ đối với các chương trình đào tạo liên thông và chương trình có sinh viên đăng ký học chương trình thứ hai là cần thiết, phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học.
“Về nguyên tắc, dù tuyển sinh và tổ chức đào tạo theo bất kì hình thức nào, người học sau khi tốt nghiệp vẫn phải được bảo đảm chất lượng văn bằng tương đương, đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Đào tạo liên thông có những đặc thù như công nhận, chuyển đổi và tích lũy tín chỉ; sự khác biệt về nền tảng kiến thức của người học; thời gian và cách thức tổ chức đào tạo. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ, có thể xuất hiện khoảng cách giữa chuẩn đầu vào, quá trình đào tạo và chuẩn đầu ra. Tương tự, đối với sinh viên học chương trình thứ hai, khối lượng học tập, lịch học, việc công nhận các học phần tương đương và khả năng đáp ứng đồng thời yêu cầu của hai chương trình cần được theo dõi bằng những tiêu chí rõ ràng.
Vì vậy, kiểm định định kỳ không nên hiểu đơn thuần là kiểm tra một bộ hồ sơ, mà là cơ chế xác nhận độc lập rằng chương trình đào tạo đã được triển khai đúng cam kết; các điều kiện bảo đảm chất lượng được duy trì; người học thực sự đạt chuẩn đầu ra trước khi được cấp bằng.
Quy định này còn góp phần bảo đảm sự công bằng giữa các nhóm người học, hạn chế nguy cơ hình thành những “chuẩn chất lượng khác nhau” trong cùng một chương trình và củng cố niềm tin của xã hội đối với văn bằng giáo dục đại học. Đây cũng là bước chuyển phù hợp từ quản lý chủ yếu bằng điều kiện đầu vào sang quản trị dựa trên kết quả, chất lượng đầu ra và trách nhiệm giải trình”, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh cho hay.
Bên cạnh đó, theo thầy Thanh, hoạt động quản lý thường xuyên có ưu điểm là kịp thời, liên tục nhưng phần lớn tập trung vào việc tuân thủ kế hoạch, tiến độ giảng dạy, hồ sơ chuyên môn và xử lý những vấn đề phát sinh. Trong khi đó, kiểm định định kỳ cho phép nhìn nhận chương trình một cách tổng thể, có hệ thống và dựa trên chuỗi dữ liệu trong một giai đoạn đủ dài.
Trước hết, kiểm định có thể nhận diện khoảng cách giữa chương trình được thiết kế và chương trình thực tế được triển khai. Trên hồ sơ, cùng một chương trình có thể sử dụng chung chuẩn đầu ra, cấu trúc học phần và đề cương môn học; tuy nhiên, khi tổ chức với những nhóm người học, địa điểm hoặc phương thức khác nhau, chất lượng giảng dạy, mức độ tương tác và khả năng tiếp cận học liệu có thể không đồng đều.
Thứ hai, kiểm định giúp phát hiện những bất cập trong công nhận và chuyển đổi tín chỉ. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với đào tạo liên thông và chương trình thứ hai. Việc miễn trừ hoặc công nhận học phần nếu chỉ căn cứ vào tên gọi, số tín chỉ mà chưa đối sánh đầy đủ về nội dung, chuẩn đầu ra, mức độ năng lực và phương pháp đánh giá có thể tạo ra những khoảng trống kiến thức của người học.
Thứ ba, kiểm định có thể đánh giá mức độ phân hóa về chất lượng đội ngũ. Không chỉ xem xét số lượng và văn bằng của giảng viên, quá trình này cần phân tích mức độ phù hợp giữa chuyên môn của giảng viên với học phần phụ trách, tỷ lệ giảng viên cơ hữu, tải giảng, năng lực sử dụng công nghệ và khả năng hỗ trợ những nhóm người học có đặc điểm khác nhau.
Thứ tư, thông qua phỏng vấn, quan sát, khảo sát và đối chiếu dữ liệu, kiểm định định kỳ có thể phát hiện những vấn đề khó thể hiện trên hồ sơ. Chẳng hạn như mức độ tham gia thực chất của người học, chất lượng phản hồi của giảng viên, khả năng tiếp cận cố vấn học tập, tình trạng quá tải khi sinh viên học đồng thời hai chương trình, mức độ tin cậy, công bằng và trung thực trong kiểm tra, đánh giá.
Quan trọng hơn, kiểm định định kỳ giúp theo dõi chất lượng đầu ra thông qua kết quả học tập, tỷ lệ tiến bộ, tỷ lệ thôi học hoặc kéo dài thời gian học, khả năng có việc làm, phản hồi của nhà tuyển dụng và năng lực nghề nghiệp của người tốt nghiệp. Những xu hướng này thường chỉ được nhận diện đầy đủ khi dữ liệu được tích lũy, phân tích và đối sánh trong nhiều năm.
Như vậy, giá trị nổi bật của kiểm định là kết nối được ba thành tố: điều kiện bảo đảm chất lượng, quá trình tổ chức đào tạo và kết quả đầu ra. Đây là điều mà hoạt động giám sát hành chính thường xuyên đôi khi chưa thực hiện được một cách toàn diện.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Việt - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing, đối với đào tạo liên thông, hiện nay có thể phân biệt giữa liên thông dọc (từ trung cấp, cao đẳng lên đại học) và liên thông ngang (giữa các chương trình, trình độ đào tạo tương ứng).
Việc công nhận và tổ chức đào tạo liên thông hiện được quy định với những yêu cầu cụ thể về các học phần cốt lõi, khối lượng kiến thức được kế thừa cũng như trách nhiệm của cơ sở giáo dục chủ trì chương trình. Vì vậy, quy định về kiểm định chương trình đào tạo đối với hình thức đào tạo liên thông cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, bảo đảm tính thống nhất và phù hợp với các quy định hiện hành.
Về nguyên tắc, mỗi chương trình đào tạo đều được xây dựng trên cơ sở chuẩn đầu ra và các yêu cầu về nội dung, phương pháp tổ chức đào tạo, đánh giá người học. Khi chương trình học được triển khai ở các hình thức hoặc phương thức đào tạo khác nhau, việc bảo đảm chất lượng phải được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, cách thức kiểm soát và đánh giá chất lượng cần thiết kế phù hợp, thống nhất với hệ thống quy định hiện hành, vừa bảo đảm hiệu quả quản lý vừa tránh tạo thêm thủ tục không cần thiết cho các cơ sở giáo dục đại học.
Tương tự, đối với trường hợp cơ sở giáo dục vi phạm các điều kiện bảo đảm chất lượng, quy định về kiểm định định kỳ cũng cần được xem xét trong mối tương quan với các quy định hiện hành về quản lý và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
“Theo tôi, cần phân định rõ giữa hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục với cơ chế rà soát, giám sát và khắc phục những vi phạm trong quá trình tổ chức đào tạo. Kiểm định chất lượng giáo dục là một quá trình đánh giá toàn diện, xem xét nhiều yếu tố từ đầu vào, quá trình tổ chức đào tạo đến kết quả đầu ra và ý kiến của các bên liên quan. Vì vậy, cần nghiên cứu và có cơ chế cụ thể để xác định rõ trường hợp nào cần thực hiện kiểm định, trường hợp nào có thể áp dụng cơ chế rà soát, giám sát và khắc phục theo các quy định hiện hành.
Trên cơ sở đó, dự thảo có thể tiếp tục tăng cường yêu cầu về trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học trong việc duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng; đồng thời, thiết lập cơ chế giám sát việc thực hiện chương trình một cách thường xuyên, minh bạch. Khi phát hiện vi phạm, cơ sở đào tạo cần có trách nhiệm khắc phục theo đúng quy định; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.
Tôi cho rằng mục tiêu quan trọng là xây dựng được cơ chế quản lý chất lượng vừa chặt chẽ, vừa đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành. Vì vậy, đối với các quy định liên quan đến đào tạo liên thông, liên kết đào tạo hay các hình thức tổ chức đào tạo khác, cần tiếp tục làm rõ phạm vi, đối tượng và thời điểm áp dụng yêu cầu kiểm định, bảo đảm không chồng chéo với những quy định đã có.
Cách tiếp cận này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo, đồng thời tạo sự rõ ràng, thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học trong quá trình tổ chức thực hiện; hỗ trợ tốt hơn mục tiêu thúc đẩy học tập suốt đời và mở rộng cơ hội học tập cho người học”, Phó Giáo sư Phạm Quốc Việt nhận định.
Kiểm định cần phục vụ cải tiến chất lượng, không tạo thêm gánh nặng hồ sơ
Để kiểm định thực sự phát huy vai trò là công cụ bảo đảm và cải tiến chất lượng, vấn đề đặt ra không chỉ nằm ở việc xây dựng các tiêu chí đánh giá mà còn ở cách thức triển khai trong thực tế. Theo Tiến sĩ Thái Doãn Thanh, điều quan trọng nhất là phải thống nhất rằng kiểm định không phải là một “kỳ thi” để cơ sở đào tạo chuẩn bị hồ sơ đối phó, mà là công cụ giúp nhà trường nhận diện đúng thực trạng và ra quyết định cải tiến dựa trên bằng chứng.
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc triển khai quy định mới cần được thiết kế theo hướng rõ ràng, khả thi, có lộ trình và áp dụng nguyên tắc quản lý dựa trên mức độ rủi ro.
Thứ nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần làm rõ đối tượng và đơn vị kiểm định. Nếu cùng một chương trình đào tạo được triển khai cho nhiều nhóm người học, cần xác định rõ kiểm định toàn bộ chương trình hay đánh giá riêng từng phương thức, địa điểm và nhóm đối tượng. Giải pháp phù hợp có thể là kiểm định chung ở cấp chương trình nhưng bắt buộc phân tích, lấy mẫu và báo cáo riêng kết quả của từng hình thức tổ chức đào tạo.
Thứ hai, cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật riêng đối với đào tạo liên thông và chương trình thứ hai, trong đó quy định các chỉ số cốt lõi về điều kiện đầu vào; công nhận, chuyển đổi tín chỉ; kiến thức bổ sung; đội ngũ giảng viên; điều kiện học tập; thời gian và phương thức dạy học; mức độ tương tác và hỗ trợ người học; liêm chính trong kiểm tra, đánh giá; mức độ đạt chuẩn đầu ra; tỷ lệ tốt nghiệp, việc làm và phản hồi của đơn vị sử dụng lao động.
Thứ ba, cần áp dụng đánh giá dựa trên rủi ro. Những chương trình có quy mô lớn, triển khai tại nhiều địa điểm, sử dụng nhiều hình thức đào tạo, có tỷ lệ công nhận tín chỉ cao hoặc xuất hiện các chỉ báo bất thường về kết quả học tập cần được đánh giá sâu hơn. Đối với chương trình có hệ thống bảo đảm chất lượng tốt và dữ liệu minh bạch, có thể giảm bớt yêu cầu hồ sơ, tránh tạo gánh nặng không cần thiết.
Thứ tư, cần xây dựng cơ sở dữ liệu số dùng chung, cho phép kết nối dữ liệu tuyển sinh, công nhận tín chỉ, quá trình học tập, kiểm tra đánh giá và kết quả đầu ra. Minh chứng nên được cập nhật thường xuyên trong quá trình vận hành chương trình, thay vì tập trung thu thập khi chuẩn bị kiểm định.
Thứ năm, cần có lộ trình chuyển tiếp hợp lý để các trường chuẩn hóa dữ liệu, kiện toàn hệ thống bảo đảm chất lượng và bố trí nguồn lực. Có thể triển khai thí điểm tại một số cơ sở đào tạo trước khi áp dụng rộng rãi, từ đó hoàn thiện hướng dẫn và thống nhất cách hiểu giữa cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục và tổ chức kiểm định.
Cuối cùng, cần công khai kết quả kiểm định theo hướng dễ hiểu, không chỉ thông báo chương trình “đạt” hay “không đạt”, mà cần thể hiện những điểm mạnh, vấn đề cần cải tiến và tiến độ khắc phục.
Có thể khẳng định rằng việc mở rộng kiểm định chất lượng chương trình đào tạo là một hướng đi tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào cách thức triển khai. Nếu đánh giá dựa trên dữ liệu, kết quả đầu ra và hoạt động cải tiến thực tế, kiểm định sẽ trở thành động lực nâng cao chất lượng. Ngược lại, nếu quá chú trọng hồ sơ và thủ tục, quy định mới có thể làm tăng chi phí nhưng chưa tạo ra giá trị tương xứng.