Dự kiến không dùng điểm cộng do trường tự quy định buộc thí sinh phải tập trung học tập thực chất

24/09/2026 06:20
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, việc không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định đòi hỏi các trường phải xác định rõ năng lực cần thiết đối với từng chương trình, từ đó công khai đưa các năng lực này vào tiêu chí xét tuyển.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều các thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh, chương trình đào tạo, tuyển sinh và đào tạo cao đẳng ngành Giáo dục mầm non, đại học và sau đại học.

Trong đó, đáng chú ý là dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, việc không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định đòi hỏi các trường phải xác định rõ những năng lực thực sự cần thiết đối với từng chương trình đào tạo, từ đó đưa các năng lực này vào tiêu chí xét tuyển một cách công khai, thống nhất.

Trường ĐH sẽ rà soát toàn bộ thông tin tuyển sinh và quy tắc tính điểm của từng ngành

Trước đề xuất từ dự thảo, nhiều thí sinh và dư luận băn khoăn là việc thí sinh dự kiến không còn được cộng tối đa 3 điểm với chứng chỉ IELTS hay giải học sinh giỏi khi xét tuyển đại học từ năm 2027.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Thành Vinh - Phó Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Vinh khẳng định, trước hết cần làm rõ căn cứ của quy định liên quan đến việc bỏ điểm cộng trong xét tuyển đại học.

Theo đó, nội dung dự thảo mà nhà trường được tham khảo chưa nêu mức cộng tối đa 3 điểm, chưa quy định cụ thể đối với chứng chỉ IELTS hay giải học sinh giỏi, đồng thời cũng chưa xác định thời điểm áp dụng do ngày có hiệu lực vẫn để trống.

Dự thảo hiện thể hiện việc bỏ cụm từ “điểm cộng” tại một số điều khoản của Quy chế tuyển sinh hiện hành và yêu cầu cách tính điểm xét tuyển phải bảo đảm chỉ sử dụng một thang điểm. Do đó, có thể hiểu đây là định hướng không tiếp tục sử dụng điểm cộng trong công thức xét tuyển, còn thời điểm áp dụng cụ thể sẽ phải chờ Thông tư chính thức.

z6450719547916-057871bf84752cb8be23e9dbd1d43339.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Thành Vinh - Phó Trưởng phòng, phòng Đào tạo, Trường Đại học Vinh. Ảnh: NVCC

Về tác động đến thí sinh, Phó Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Vinh nhận định, đối với nhóm thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế hoặc giải thưởng, việc không còn cộng điểm có thể làm giảm phần lợi thế so với cách xét tuyển hiện nay.

Tuy nhiên, đây không phải là sự phủ nhận các thành tích đó: danh mục mã số phương thức tại Phụ lục V của dự thảo vẫn có xét tuyển thẳng (mã 300), sử dụng chứng chỉ quốc tế đủ điều kiện (mã 490) và phương thức kết hợp (mã 500).

Thành tích của thí sinh vẫn được ghi nhận, nhưng thông qua phương thức tuyển sinh được công bố công khai thay vì cộng thêm vào điểm xét. Cách làm này có ưu điểm là điểm xét tuyển phản ánh thống nhất hơn, giảm chênh lệch giữa các nhóm thí sinh và giữa các cơ sở đào tạo.

“Về chất lượng đầu vào, dự thảo quy định ngưỡng tối thiểu 15 điểm theo thang điểm 30 đối với nguồn xét tuyển, đồng thời có các ngưỡng đầu vào riêng do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định hằng năm đối với chương trình đào tạo giáo viên, lĩnh vực sức khỏe và lĩnh vực pháp luật.

Nhà trường dự kiến sẽ phải điều chỉnh một số tiêu chí trong công tác tuyển sinh, song, nếu thực hiện đúng các ngưỡng đầu vào và cam kết đã công bố, chất lượng đầu vào vẫn có cơ sở được bảo đảm.

Sau khi Thông tư chính thức được ban hành, Trường Đại học Vinh sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá những tác động cụ thể để có điều chỉnh phù hợp trong phương án tuyển sinh”, Tiến sĩ Nguyễn Thành Vinh nhấn mạnh.

Còn theo Thạc sĩ Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội, việc dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung đòi hỏi các trường phải xác định rõ những năng lực thực sự cần thiết đối với từng chương trình đào tạo, từ đó đưa các năng lực này vào tiêu chí xét tuyển một cách công khai, thống nhất.

Theo thầy Ngọc Anh, nếu ngoại ngữ là thành phần của tổ hợp xét tuyển, cơ sở đào tạo cần quy định rõ việc sử dụng điểm thi hoặc quy đổi chứng chỉ theo quy định; với những ngành đặc thù như thiết kế, kiến trúc, nếu năng khiếu vẽ là yêu cầu cần thiết thì năng lực này cần được đánh giá thông qua phương thức xét tuyển phù hợp.

Những tiêu chí có ý nghĩa đối với quá trình đào tạo vẫn có thể được xem xét trong khuôn khổ pháp lý, song không nên chuyển thành các khoản điểm thưởng cộng thêm thiếu thống nhất giữa các nhóm thí sinh.

Đối với Trường Đại học Mở Hà Nội, Thạc sĩ Đỗ Ngọc Anh cho biết công việc trước mắt là rà soát toàn bộ thông tin tuyển sinh và quy tắc tính điểm của từng ngành. Những nội dung không còn phù hợp với quy định chính thức sẽ được nhà trường điều chỉnh và công bố minh bạch, qua đó giúp thí sinh nắm rõ các tiêu chí được sử dụng để đánh giá và xác định kết quả tuyển sinh.

659091563-1465491018703190-5879668585283313734-n.jpg
Thạc sĩ Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội. Ảnh: NVCC

“Việc công bố sớm và hướng dẫn rõ cách áp dụng là rất cần thiết. Nhưng cần nói chính xác rằng đề xuất này liên quan đến điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định; không có nghĩa chứng chỉ ngoại ngữ hay thành tích học sinh giỏi mất hết giá trị trong tuyển sinh.

Tại Trường Đại học Mở Hà Nội, năm 2026, chứng chỉ ngoại ngữ được sử dụng để quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển, không sử dụng để cộng điểm. Việc quy đổi chứng chỉ và diện xét tuyển thẳng sẽ được trường thực hiện theo quy định có hiệu lực tại thời điểm tuyển sinh.

Về chất lượng đầu vào, yếu tố quyết định là chọn đúng tiêu chí đánh giá năng lực cần thiết cho ngành, xác định ngưỡng đầu vào phù hợp và theo dõi kết quả học tập của sinh viên sau tuyển sinh”, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội nhấn mạnh.

Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vĩnh Long cho rằng, việc dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định sẽ góp phần hạn chế sự khác biệt giữa các trường trong cách thức cộng điểm, qua đó bảo đảm công bằng hơn giữa các thí sinh.

Theo thầy Minh, hiện mỗi trường có thể quy định các mức điểm cộng, điểm thưởng khác nhau, khiến những thí sinh không có điều kiện tiếp cận hoặc đáp ứng các tiêu chí này có thể bị hạn chế cơ hội trong xét tuyển. Vì vậy, nhà trường sẽ xây dựng tiêu chí tuyển sinh theo đúng quy định chung, bảo đảm tính minh bạch và không tạo ra những ưu tiên riêng mang tính đặc thù của từng cơ sở đào tạo.

“Quy định này cũng đặt ra yêu cầu để thí sinh tập trung hơn vào năng lực học tập thực chất, thay vì kỳ vọng vào các khoản điểm cộng trong quá trình xét tuyển. Trên cơ sở đó, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vĩnh Long xác định việc thu hút thí sinh cần được thực hiện thông qua việc công khai, làm rõ thế mạnh đào tạo, yêu cầu đầu vào, chuẩn đầu ra cũng như cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

Nhà trường hiện có mạng lưới liên kết với hàng nghìn doanh nghiệp uy tín, tạo điều kiện để sinh viên thực tập, trải nghiệm thực tế trong quá trình học tập, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm sau khi ra trường”, Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vĩnh Long bày tỏ.

thay-minh-vinh-long.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vĩnh Long. Ảnh: NVCC

Nhà trường chủ động rà soát, chuẩn bị công tác tuyển sinh nếu giảm phương thức xét tuyển

Cũng theo nội dung dự thảo, năm 2027 áp dụng 3 phương thức và từ năm 2028 giảm xuống 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo. Xét tuyển thẳng và cử tuyển không tính vào giới hạn này.

Nói về công tác tuyển sinh trong thời gian tới, Tiến sĩ Nguyễn Thành Vinh cho biết, trong giai đoạn 2027–2028, Trường Đại học Vinh đang chuẩn bị theo hướng chủ động, linh hoạt và bám sát lộ trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, song chưa chốt phương thức xét tuyển cụ thể cho từng ngành ở thời điểm hiện tại.

Việc lựa chọn phương thức sẽ được xem xét theo đặc thù từng ngành, trên cơ sở mức độ phù hợp với yêu cầu đầu vào và chuẩn chương trình đào tạo, đồng thời bảo đảm tính công bằng, minh bạch, khả thi trong tổ chức và quản lý dữ liệu, cũng như tham chiếu kết quả tuyển sinh của những năm trước.

Trong bối cảnh dự thảo xác lập ngưỡng nguồn xét tuyển trước hết dựa trên kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, đây sẽ là phương thức được nhà trường ưu tiên; với các ngành năng khiếu và một số ngành đặc thù, nhà trường sẽ nghiên cứu phương án xét tuyển kết hợp.

“Về công tác chuẩn bị, nhà trường tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ. Trước hết là xây dựng đề án tuyển sinh, trong đó rà soát danh mục ngành, chương trình đào tạo, mã hóa các phương thức, xác định tổ hợp xét tuyển, độ lệch điểm, ngưỡng đầu vào và tiêu chí phụ, đồng thời bảo đảm công bố đúng các nội dung đã cam kết.

Tiếp đó, nhà trường chú trọng công tác truyền thông, phối hợp với Phòng Truyền thông và Đối ngoại để cung cấp thông tin sớm, đầy đủ và thống nhất tới thí sinh, phụ huynh cũng như các trường trung học phổ thông; đồng thời hướng dẫn rõ cách ghi nhận thành tích, chứng chỉ theo quy định mới.

Cuối cùng là chuẩn hóa dữ liệu và tổ chức thực hiện, bảo đảm khả năng kết nối với các hệ thống của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời tập huấn đội ngũ làm công tác tuyển sinh. Đề án tuyển sinh cụ thể sẽ được nhà trường xây dựng và công bố sau khi Thông tư chính thức được ban hành”, Phó Trưởng phòng, phòng Đào tạo, Trường Đại học Vinh chia sẻ.

Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh nhận định, từ năm 2028, khi mỗi ngành chỉ còn được sử dụng một phương thức xét tuyển sẽ tác động khá mạnh đến công tác tư vấn tuyển sinh của các ngành trong toàn trường.

Theo thầy Minh, các khoa chuyên môn cần phối hợp với nhà trường để xác định chính xác phương thức tuyển sinh phù hợp với yêu cầu về năng lực đầu vào của từng ngành, đồng thời tính đến xu hướng lựa chọn ngành học, môn học của học sinh cũng như dự báo xu thế phát triển tương ứng của từng ngành nghề trong tương lai.

Bên cạnh đó, công tác quản lý dữ liệu và tổ chức xét tuyển cũng sẽ trở nên phức tạp hơn khi mỗi ngành chỉ được lựa chọn một phương thức xét tuyển. Điều này đòi hỏi công tác tư vấn tuyển sinh phải được thực hiện bởi những người am hiểu sâu về từng chuyên ngành, qua đó giúp người học có đầy đủ thông tin trước khi lựa chọn môn học và ngành đăng ký xét tuyển.

785288042-1740169333900346-7256514530678939894-n.jpg
Hoạt động tư vấn tuyển sinh tại Trường Đại học Mở Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

“Khi mỗi ngành chỉ áp dụng một phương thức xét tuyển, cơ hội lựa chọn và xét tuyển của thí sinh có thể bị thu hẹp nếu các em lựa chọn môn học không phù hợp với phương thức mà ngành đào tạo sử dụng, đặc biệt trong trường hợp kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông không đạt như kỳ vọng”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh bày tỏ.

Còn với Thạc sĩ Đỗ Ngọc Anh, nếu được thiết kế phù hợp, một phương thức xét tuyển cho mỗi ngành sẽ giúp thí sinh dễ hiểu điều kiện dự tuyển và cách tính điểm hơn.

“Với nhà trường, dữ liệu đầu vào sẽ thống nhất hơn, giảm việc đối chiếu điểm chuẩn giữa nhiều phương thức, hạn chế sai sót khi xử lý hồ sơ và thuận lợi hơn trong giải trình kết quả xét tuyển.

Tuy nhiên, số phương thức ít đi chỉ phát huy hiệu quả khi phương thức được chọn đánh giá đúng năng lực cần thiết của ngành. Đây là lý do các trường cần phân tích dữ liệu theo từng ngành và công bố sớm, rõ ràng tiêu chí xét tuyển để thí sinh có thời gian chuẩn bị”, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội đánh giá.

Đình Nam