Điểm chưa tương thích khi xếp ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành vào nhóm Khách sạn, nhà hàng

05/10/2026 06:24
ĐÀO HIỀN
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Hiện nay, ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành được đối chiếu với ngành Quản trị khách sạn, thuộc nhóm Khách sạn, nhà hàng. Trong khi đó, nội hàm đào tạo của ngành tập trung vào lữ hành, đáng lẽ phải được xếp vào nhóm Du lịch. 

Tại Phụ lục II Thông tư 74/2026/TT-BGDĐT quy định Danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành (mã ngành 7810103) được đối chiếu với ngành Quản trị khách sạn, thuộc nhóm 8102 - Khách sạn, nhà hàng.

Tuy nhiên, theo Quyết định số 01/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, lĩnh vực 81 - Du lịch, khách sạn, thể thao và dịch vụ cá nhân được phân tách thành các nhóm ngành riêng, trong đó 8101 là Du lịch, còn 8102 là Khách sạn, nhà hàng.

Theo đánh giá từ một số chuyên gia, cách đối chiếu tại Thông tư 74/2026/TT-BGDĐT đang có sự chồng chéo với hệ thống phân nhóm trước đó, khi một ngành có phạm vi đào tạo gắn với du lịch và lữ hành lại được đối chiếu vào nhóm Khách sạn, nhà hàng, vốn được xác định là một nhóm ngành riêng trong lĩnh vực này.

Phân nhóm ngành cần bám sát nội hàm đào tạo

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Hương Lan - Phó Trưởng khoa Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, việc đối chiếu ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành (7810103) với ngành Quản trị khách sạn (810201), thuộc nhóm 8102 - Khách sạn, nhà hàng, chưa phản ánh đầy đủ nội hàm và phạm vi đào tạo của ngành.

Theo đó, cần phân biệt giữa “dịch vụ du lịch và lữ hành” với “dịch vụ lưu trú, khách sạn và nhà hàng”. Các lĩnh vực này có mối liên hệ chặt chẽ trong chuỗi giá trị du lịch, nhưng khác nhau về đối tượng quản trị và phạm vi chuyên môn.

Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành có phạm vi đào tạo rộng, tập trung vào tổ chức và điều hành hoạt động lữ hành, thiết kế chương trình và sản phẩm du lịch, hướng dẫn, quản trị điểm đến, marketing, kinh doanh lữ hành và các dịch vụ phục vụ khách du lịch. Trong khi đó, Quản trị khách sạn chủ yếu tập trung vào quản trị cơ sở lưu trú và các hoạt động vận hành như lễ tân, buồng phòng, dịch vụ lưu trú, doanh thu và dịch vụ ăn uống trong khách sạn.

“Sự khác biệt này cũng được thể hiện ngay trong Thông tư 74, khi 8101 được xác định là ngành Du lịch, còn 8102 là ngành Khách sạn, nhà hàng. Trong đó 810201 là Quản trị khách sạn và 810202 là Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống”, cô Lan phân tích.

Cách xếp ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành vào nhóm Khách sạn, nhà hàng không chỉ đặt vấn đề về sự tương thích trong phân loại ngành mà còn có thể tác động đến cách ngành được nhận diện trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Phân tích về vấn đề này, Tiến sĩ Vũ Hương Lan cho rằng có thể nhìn nhận ở ba khía cạnh.

Thứ nhất, về đào tạo, cách phân nhóm có thể tạo ra sự thiếu tương thích giữa tên ngành, nội hàm đào tạo và vị trí của ngành trong danh mục. Một ngành có tên Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành nhưng lại được đối chiếu với Quản trị khách sạn có thể khiến người học, phụ huynh và xã hội hiểu phạm vi đào tạo của ngành chủ yếu hướng đến nhân lực khách sạn.

Trong khi trên thực tế, sinh viên ngành này có thể làm việc tại doanh nghiệp lữ hành, công ty du lịch, doanh nghiệp vận chuyển khách du lịch, đơn vị tổ chức sự kiện, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm và dịch vụ du lịch, ban quản lý điểm đến hoặc các cơ quan quản lý du lịch.

Thứ hai, về quản lý đào tạo, việc phân nhóm là căn cứ quan trọng phục vụ thống kê, quản lý ngành, quy hoạch đào tạo và một số hoạt động liên quan đến kiểm định, xây dựng và phát triển chương trình. Nếu vị trí của ngành trong danh mục không phản ánh đúng nội hàm chuyên môn, về lâu dài có thể dẫn đến sự thiếu nhất quán giữa cách phân loại hành chính và thực tiễn đào tạo.

Thứ ba, đối với phát triển nguồn nhân lực, du lịch hiện nay bao gồm một chuỗi hoạt động rộng, từ xây dựng và phát triển sản phẩm, marketing, kinh doanh, tổ chức chương trình du lịch, vận chuyển, hướng dẫn, tổ chức trải nghiệm đến quản trị điểm đến và chăm sóc khách hàng. Vì vậy, nếu ngành đào tạo nhân lực cho chuỗi hoạt động này được đặt trong nhóm Khách sạn, nhà hàng, phạm vi chuyên môn của ngành có thể bị nhận diện hẹp hơn so với thực tế.

“Tuy nhiên, đây trước hết là vấn đề về nhận diện và quản lý, không nên đồng nhất với việc chất lượng đào tạo sẽ đương nhiên giảm xuống. Chất lượng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và cách tổ chức đào tạo của từng cơ sở”, Tiến sĩ Vũ Hương Lan lưu ý.

Từ thực tế đào tạo, Tiến sĩ Vũ Hương Lan cho biết nhiều cơ sở giáo dục đại học về du lịch hiện đang đào tạo song song hai ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành (7810103) và Quản trị khách sạn (7810201) theo danh mục trước đây. Do đó, nếu cách phân loại mới đưa hai ngành này về những vị trí không tương ứng với sự khác biệt về nội hàm chuyên môn, các cơ sở đào tạo có thể phải rà soát, điều chỉnh cách tổ chức và quản lý chương trình, đồng thời làm rõ thông tin với người học để tránh nhầm lẫn giữa hai ngành.

1790779367468-4239575167998079137-4239575167998079137-f425c53bdec81c6c93502cbd8951b438.jpg
Tiến sĩ Vũ Hương Lan - Phó Trưởng khoa Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Cùng bàn luận về vấn đề này, Tiến sĩ Dương Ngọc Lang - Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Yersin Đà Lạt cho rằng, việc đối chiếu ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành với ngành Quản trị khách sạn chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về định hướng chuyên môn và năng lực nghề nghiệp mà hai ngành hướng tới.

Theo Tiến sĩ Dương Ngọc Lang, điểm khác biệt cần được nhìn từ chính đối tượng và phạm vi hoạt động nghề nghiệp. Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành hướng đến việc tổ chức, kết nối và vận hành các dịch vụ tạo nên một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh. Người học phải có khả năng phát triển sản phẩm, thiết kế và điều hành chương trình, phối hợp với nhiều nhà cung cấp dịch vụ, đồng thời kiểm soát chất lượng và trải nghiệm của du khách trong suốt hành trình.

Trong khi đó, Quản trị khách sạn tập trung vào hoạt động kinh doanh và vận hành một cơ sở lưu trú, từ tổ chức dịch vụ buồng phòng, lễ tân đến quản lý doanh thu, dịch vụ ăn uống và các hoạt động phục vụ khách trong phạm vi cơ sở. Hai lĩnh vực có sự liên kết trong chuỗi dịch vụ du lịch, nhưng yêu cầu về đối tượng quản trị và năng lực nghề nghiệp không hoàn toàn giống nhau.

“Chẳng hạn, để tổ chức một chương trình du lịch đến Đà Lạt, người làm lữ hành phải kết nối vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan và hướng dẫn thành một chương trình phù hợp với từng nhóm khách. Khách sạn là một phần quan trọng trong chương trình đó, nhưng chuyên môn quản trị khách sạn không bao quát toàn bộ yêu cầu của hoạt động lữ hành”, thầy Lang phân tích.

Từ góc độ thực tiễn đào tạo, thầy Lang cho rằng cách phân loại ngành cũng cần được xem xét ở khả năng truyền tải đúng thông tin đến người học và xã hội. Nếu Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành được đặt trong nhóm Khách sạn, nhà hàng và đối chiếu với Quản trị khách sạn, thí sinh có thể hình dung phạm vi ngành hẹp hơn so với thực tế. Trong khi đó, cơ hội nghề nghiệp của sinh viên sau tốt nghiệp không chỉ nằm ở các cơ sở lưu trú mà còn trải rộng ở doanh nghiệp lữ hành, công ty du lịch, đơn vị vận chuyển khách, tổ chức sự kiện, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm du lịch và các đơn vị quản lý điểm đến.

Đây cũng là vấn đề các cơ sở đào tạo cần lưu ý khi xây dựng chương trình và thông tin tuyển sinh. Theo thầy Lang, dù cách phân loại trong danh mục không đồng nghĩa với việc chương trình đào tạo phải thu hẹp theo tên nhóm ngành, sự thiếu tương thích giữa tên ngành và vị trí phân loại có thể khiến nhà trường phải giải thích rõ hơn về định hướng đào tạo, chuẩn đầu ra và vị trí việc làm của sinh viên.

Điều quan trọng là những năng lực đặc thù của lĩnh vực lữ hành như phát triển sản phẩm, thiết kế và điều hành chương trình, tổ chức dịch vụ và quản lý trải nghiệm du khách vẫn phải được thể hiện đầy đủ trong chương trình đào tạo.

Ở góc độ thị trường lao động, thầy Lang cho rằng sự phân định rõ giữa các ngành còn giúp nhận diện chính xác hơn nhu cầu nhân lực của từng nhóm doanh nghiệp. Doanh nghiệp lữ hành cần nhân sự có năng lực thiết kế, điều hành và kinh doanh chương trình du lịch, trong khi cơ sở lưu trú lại có những yêu cầu khác về vận hành khách sạn và quản trị dịch vụ tại chỗ. Vì vậy, việc phân loại ngành cần đủ rõ để không làm lu mờ sự khác biệt về năng lực nghề nghiệp mà thị trường lao động đang sử dụng.

“Những vấn đề trên cần được nhìn nhận như những điểm cần rà soát trong quá trình áp dụng cách phân loại mới, thay vì đồng nhất với việc chất lượng đào tạo hay cơ hội việc làm của sinh viên sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Việc quan trọng là bảo đảm thông tin về ngành học, nội dung đào tạo và định hướng nghề nghiệp được thể hiện nhất quán, để người học và các bên liên quan hiểu đúng phạm vi chuyên môn của ngành”, thầy Lang nhấn mạnh.

548199180-771379115644758-7791238167715788262-n.jpg
Tiến sĩ Dương Ngọc Lang - Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Yersin Đà Lạt. Ảnh: website nhà trường.

Hai nhóm khác nhau về chuyên môn, cần căn cứ nội dung đào tạo

Xét từ nội hàm chuyên môn và thực tiễn đào tạo, Tiến sĩ Dương Ngọc Lang cho rằng ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành nên được xếp vào nhóm 8101 - Du lịch, phù hợp với trọng tâm đào tạo về tổ chức hoạt động du lịch, phát triển sản phẩm và kinh doanh lữ hành.

Theo thầy Lang, việc xác định nhóm ngành cần dựa trên mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung kiến thức cốt lõi, yêu cầu thực hành, thực tập và định hướng nghề nghiệp. Các nội dung về khách sạn, nhà hàng trong chương trình có tính bổ trợ, phản ánh mối liên kết giữa các dịch vụ trong chuỗi du lịch nhưng không phải căn cứ để xác định toàn bộ định hướng chuyên môn của ngành.

Về căn cứ trong nước, Quyết định số 01/2017/QĐ-TTg xác định nhóm Du lịch bao gồm các hoạt động du lịch, lữ hành, tiếp thị và quản lý kinh doanh; Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT xếp Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành vào nhóm Du lịch ở trình độ đại học. Đây là những căn cứ cần được xem xét để bảo đảm tính thống nhất và kế thừa khi phân loại.

Ở góc độ quốc tế, ISCED-F 2013 của UNESCO cũng phân biệt lĩnh vực lữ hành, du lịch và giải trí với khách sạn, nhà hàng và dịch vụ ăn uống. Theo thầy Lang, đây là cơ sở tham khảo cho thấy hai nhóm có đặc trưng chuyên môn khác nhau, song việc xác định vị trí ngành trong hệ thống của Việt Nam vẫn cần dựa trên nội dung đào tạo thực tế và quy định trong nước.

Đặc biệt, việc xếp ngành vào nhóm Du lịch sẽ giúp vị trí phân loại phù hợp hơn với nội dung đào tạo và định hướng nghề nghiệp. Nếu được thực hiện đồng bộ, điều chỉnh này có thể tạo thuận lợi cho cơ sở đào tạo, người học và doanh nghiệp.

1790736914459-889960856615422509-889960856615422509-209fefb17dc2381a91d962c1ff4c87c5.jpg
UNESCO phân biệt lĩnh vực lữ hành, du lịch và giải trí với khách sạn, nhà hàng và dịch vụ ăn uống. Ảnh minh họa: NVCC

Với cơ sở đào tạo, đây là cơ sở để thống nhất tên ngành, mục tiêu, chương trình và chuẩn đầu ra, đồng thời làm rõ các năng lực cốt lõi về phát triển sản phẩm, thiết kế và điều hành chương trình du lịch, quản lý chất lượng dịch vụ. Kiến thức về khách sạn, nhà hàng vẫn cần được duy trì ở mức phù hợp, bởi đây là những dịch vụ có liên quan trong quá trình tổ chức sản phẩm du lịch.

Với sinh viên, cách phân loại rõ ràng giúp người học có thêm thông tin khi lựa chọn ngành và định hướng nghề nghiệp. Với doanh nghiệp, việc nhận diện đúng phạm vi đào tạo cũng thuận lợi hơn cho tuyển dụng, tiếp nhận thực tập và phối hợp đào tạo. Ở góc độ quản lý, phân loại phù hợp góp phần nâng cao độ chính xác của dữ liệu về đào tạo và nguồn nhân lực theo từng lĩnh vực.

Theo thầy Lang, việc rà soát cần dựa trên nội dung chuyên môn chủ đạo, chuẩn đầu ra và yêu cầu nghề nghiệp của ngành, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi. Các minh chứng cần xem xét gồm cơ cấu kiến thức, kỹ năng cốt lõi, nội dung học phần, kết quả thực tập, việc làm của sinh viên và ý kiến từ đơn vị sử dụng lao động. Bên cạnh đó, cần đối sánh chương trình tại nhiều cơ sở đào tạo và tham khảo các hệ thống phân loại quốc tế để nhận diện đặc trưng chung của ngành.

“Trước khi quyết định, cần đánh giá tác động đến cơ sở đào tạo, người học và doanh nghiệp. Đồng thời tổ chức trao đổi chuyên môn với các bên liên quan và rà soát đầy đủ minh chứng. Nếu điều chỉnh cách phân loại, cần có hướng dẫn thống nhất về tên, mã ngành, dữ liệu quản lý, kiểm định và văn bằng, cũng như cách áp dụng đối với từng khóa học để bảo đảm tính ổn định trong đào tạo”, thầy Lang cho hay.

1790736914695-889960856615422509-889960856615422509-6448661a7bc376f41a5e6dc61fc70cf2.jpg
Việc sắp xếp ngành cần dựa trên nội dung chuyên môn chủ đạo, chuẩn đầu ra và yêu cầu nghề nghiệp, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi. Ảnh: NVCC

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Vũ Hương Lan cũng cho rằng nên xem xét xếp ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành vào nhóm 8101 – Du lịch. Theo đó, cơ sở của việc điều chỉnh không nằm ở tên gọi đơn thuần mà ở trọng tâm chuyên môn và định hướng nghề nghiệp của ngành.

Theo cô Lan, nếu được điều chỉnh, trước hết việc này sẽ tạo sự thống nhất giữa vị trí phân loại và thực tiễn đào tạo, chứ không đồng nghĩa các trường phải thay đổi toàn bộ nội dung chương trình. Điều quan trọng là ngành được nhận diện đúng với phạm vi chuyên môn vốn có.

Việc đặt ngành trong nhóm Du lịch cũng làm rõ hơn định hướng đào tạo và vị trí của ngành trong hệ thống giáo dục. Với người học, cách phân loại này giúp nhận diện đầy đủ hơn phạm vi nghề nghiệp, từ lữ hành, phát triển sản phẩm, quản trị điểm đến đến tổ chức dịch vụ và trải nghiệm du lịch, thay vì chỉ gắn với lĩnh vực khách sạn.

682404785-1563692612422939-1557640021537158367-n.jpg
Ảnh minh họa: Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Từ góc độ quản lý và phát triển nguồn nhân lực, cô Lan cho rằng khi rà soát những ngành có tính liên ngành, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xem xét đồng thời nhiều tiêu chí, trong đó trước hết là nội hàm chuyên môn và cấu trúc kiến thức cốt lõi. Cần xác định ngành nghiên cứu, đào tạo về đối tượng gì, những vấn đề chuyên môn nào giữ vai trò chủ đạo và tỷ trọng các nhóm kiến thức trong chương trình, thay vì chỉ dựa vào một vài học phần có tên tương đồng.

Tiếp đó là chuẩn đầu ra, năng lực nghề nghiệp và phạm vi việc làm. Cần làm rõ sinh viên tốt nghiệp được đào tạo để đảm nhiệm những công việc nào, năng lực nào là cốt lõi và ngành cung cấp nhân lực chủ yếu cho khu vực nào của thị trường lao động.

Một căn cứ quan trọng khác là thực tiễn đào tạo và tính kế thừa của hệ thống phân loại. Việc rà soát nên dựa trên chương trình đang được triển khai tại nhiều cơ sở giáo dục đại học, đồng thời bảo đảm khả năng liên thông với hệ thống mã ngành trước đó, hạn chế xáo trộn không cần thiết đối với tuyển sinh, đào tạo, kiểm định và thống kê.

“Đối với những ngành có tính liên ngành như du lịch, không nên phân loại theo cách tách biệt hoàn toàn, bởi ngành có sự giao thoa với khách sạn, nhà hàng, vận tải, văn hóa, thương mại, công nghệ và môi trường. Nguyên tắc phù hợp là xác định ngành theo lĩnh vực chuyên môn và năng lực nghề nghiệp cốt lõi, đồng thời ghi nhận các mối quan hệ liên ngành”, cô Lan cho hay.

Theo cô Lan, cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống danh mục, vừa hạn chế nguy cơ một ngành có phạm vi chuyên môn rộng bị thu hẹp về mặt nhận diện chỉ vì có sự giao thoa với một ngành khác.​

ĐÀO HIỀN