Số lượng công bố của hệ thống giáo dục Việt Nam có xu hướng tăng 17,6%, từ 22.249 bài (năm 2024) lên 26.157 bài (năm 2025). Trong 9 tháng năm 2026, toàn hệ thống ghi nhận 23.717 bài và ước tính cả năm đạt khoảng 31.600 bài. [1]
Theo ý kiến của một số chuyên gia, sự gia tăng về số lượng công bố khoa học cho thấy hoạt động nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu đang có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, số lượng chưa thể phản ánh đầy đủ hiệu quả nghiên cứu mà cần xây dựng những thước đo rõ ràng về chất lượng và tác động của công trình và tạo điều kiện cho các nhà khoa học phát huy năng lực, nâng cao giá trị và sức ảnh hưởng của nghiên cứu Việt Nam.
Nâng tầm tạp chí khoa học trong nước để hội nhập sâu rộng với quốc tế
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, việc các công trình nghiên cứu của Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều trên những tạp chí quốc tế có uy tín là một tín hiệu rất đáng mừng. Điều đó cho thấy khoa học Việt Nam đang từng bước nâng cao chất lượng và mức độ hội nhập với nền khoa học thế giới.
“Khi số lượng công bố đạt tới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn công trình mỗi năm, điều đó phản ánh một nền tảng nghiên cứu ngày càng rộng và một lực lượng khoa học có khả năng tham gia sâu hơn vào các mạng lưới nghiên cứu quốc tế. Quan trọng hơn, những công bố này giúp kết quả nghiên cứu của Việt Nam được đặt trong cùng không gian học thuật với các quốc gia khác, qua đó tạo điều kiện để các nhà khoa học trong nước trao đổi, hợp tác và tham gia giải quyết những vấn đề khoa học có tính toàn cầu.
Đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đây càng là một điểm đáng ghi nhận. Viện là một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học cơ bản và công nghệ quan trọng của đất nước, đồng thời có đội ngũ nghiên cứu tham gia tương đối sâu vào các mạng lưới khoa học quốc tế. Việc duy trì năng lực công bố quốc tế không chỉ cho thấy sức mạnh của từng nhóm nghiên cứu, từng phòng thí nghiệm hay từng nhà khoa học, mà còn phản ánh năng lực nghiên cứu của cả một hệ thống.
Tôi cho rằng giá trị lớn hơn của những kết quả này nằm ở chỗ khoa học Việt Nam đang dần chuyển từ việc “có công bố quốc tế” sang “có những công bố có chất lượng và có vị trí trong cộng đồng khoa học quốc tế”. Đây là bước chuyển rất quan trọng, bởi khi chất lượng nghiên cứu được nâng lên, khả năng hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực nghiên cứu và tham gia vào các chương trình, mạng lưới khoa học lớn cũng sẽ được mở rộng.
Từ nền tảng đó, Việt Nam có thêm điều kiện để hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển các hướng nghiên cứu có tính dẫn dắt và từng bước tạo ra những kết quả khoa học có dấu ấn riêng. Vì vậy, sự gia tăng về số lượng và chất lượng công bố quốc tế có thể xem là một trong những tín hiệu cho thấy năng lực khoa học của Việt Nam đang từng bước trưởng thành và hội nhập sâu hơn với nền khoa học thế giới”, Giáo sư Trần Hồng Thái cho hay.
Tuy nhiên, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đặt ra câu hỏi là làm thế nào để năng lực nghiên cứu ngày càng được nâng cao không chỉ thể hiện qua số lượng công bố quốc tế, mà còn được chuyển hóa thành một hệ sinh thái xuất bản khoa học trong nước có chất lượng và uy tín quốc tế. Bởi nếu các nhà khoa học Việt Nam ngày càng có nhiều công trình đạt chuẩn quốc tế, thì các tạp chí khoa học trong nước cũng cần từng bước nâng tầm để trở thành những diễn đàn học thuật đủ sức quy tụ, phản biện và lan tỏa các kết quả nghiên cứu có giá trị.
Đây cũng là hướng phát triển đang ghi nhận những tín hiệu rất tích cực tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Theo Giáo sư Trần Hồng Thái, hiện Viện có 12 tạp chí khoa học, trong đó 7 tạp chí đã được công nhận trong các hệ thống chỉ mục quốc tế uy tín. Đáng chú ý, năm 2025, có 6 tạp chí được nâng hạng từ nhóm Q3 lên Q2; đến năm 2026, tiếp tục có thêm 1 tạp chí vươn lên nhóm Q1. Những bước tiến liên tiếp này cho thấy chất lượng và mức độ hội nhập quốc tế của hệ thống tạp chí khoa học thuộc Viện đang được cải thiện rõ rệt.
“Đằng sau kết quả đó là cả một quá trình nâng cao chất lượng bài báo, chuẩn hóa quy trình phản biện, xây dựng đội ngũ biên tập, mở rộng mạng lưới chuyên gia và tăng cường sự tham gia của các nhà khoa học quốc tế. Nói cách khác, sự phát triển của tạp chí cũng là một tín hiệu cho thấy chất lượng và mức độ chuyên nghiệp của cộng đồng nghiên cứu đang đứng phía sau tạp chí đó.
Công bố quốc tế vẫn là một thước đo rất quan trọng đối với năng lực nghiên cứu, đặc biệt trong nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, để nâng cao vị thế khoa học một cách bền vững, chúng ta cần nhìn rộng hơn là không chỉ đưa các công trình của Việt Nam ra thế giới, mà còn phải từng bước đưa chính các tạp chí khoa học của Việt Nam hội nhập sâu vào dòng chảy học thuật quốc tế.
Khi các tạp chí trong nước đạt được chuẩn mực quốc tế cao hơn, chúng ta sẽ có thêm những diễn đàn học thuật đủ uy tín để thu hút các nhà khoa học trong và ngoài nước, tạo không gian trao đổi tri thức, kết nối các nhóm nghiên cứu và lan tỏa những kết quả có giá trị. Đây cũng là cách để những thành quả nghiên cứu không chỉ được công bố ở nước ngoài mà còn góp phần hình thành những trung tâm tri thức, những diễn đàn học thuật có thương hiệu của Việt Nam”, Giáo sư Trần Hồng Thái nhận định.
Con số 7/12 tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được công nhận trong các hệ thống quốc tế có thể xem là một nền tảng quan trọng cho bước phát triển tiếp theo. Mục tiêu đến năm 2030 không chỉ là tăng số lượng tạp chí được quốc tế công nhận, mà quan trọng hơn là tiếp tục nâng chất lượng để ngày càng có nhiều tạp chí tiến lên những nhóm thứ hạng cao hơn, qua đó nâng vị thế của các tạp chí khoa học Việt Nam trong cộng đồng học thuật quốc tế.
Mặt khác, việc nâng tầm các tạp chí khoa học trong nước sẽ tạo ra một vòng tròn tích cực: nghiên cứu tốt tạo ra công bố tốt; công bố tốt góp phần nâng chất lượng tạp chí; tạp chí mạnh lại thu hút thêm các nhà khoa học và công trình chất lượng cao. Đây chính là nền tảng để khoa học Việt Nam không chỉ gia tăng sự hiện diện trên bản đồ nghiên cứu thế giới, mà từng bước tạo dựng được những diễn đàn học thuật có uy tín và dấu ấn riêng.
Không chỉ đo lường năng lực khoa học bằng số lượng công bố quốc tế
Trao đổi về chất lượng và tầm ảnh hưởng của các công bố khoa học Việt Nam hiện nay, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ cho rằng, sự gia tăng số lượng công bố quốc tế là tín hiệu tích cực, phản ánh những bước tiến về năng lực nghiên cứu và mức độ hội nhập của khoa học Việt Nam. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động khoa học, cần nhìn xa hơn các chỉ số công bố.
“Việc công bố công trình trên các tạp chí quốc tế uy tín, đặc biệt là những tạp chí có tiêu chuẩn tuyển chọn khắt khe vẫn là minh chứng đáng ghi nhận cho năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam. Những công trình này không chỉ đóng góp tri thức mới cho cộng đồng khoa học mà còn có ý nghĩa đối với hoạt động đào tạo, phát triển đội ngũ và nâng cao vị thế học thuật của các cơ sở nghiên cứu, trường đại học. Vì vậy, không thể phủ nhận những giá trị mà sự gia tăng công bố quốc tế mang lại.
Tuy nhiên, nếu quá chú trọng vào các chỉ số công bố mà chưa quan tâm tương xứng đến khả năng ứng dụng và tác động thực tiễn, hiệu quả của hoạt động khoa học sẽ chưa được phát huy đầy đủ. Bài toán đặt ra không chỉ là tạo ra những công trình có chất lượng học thuật cao, mà còn là làm thế nào để những kết quả nghiên cứu ấy tiếp tục được phát triển, ứng dụng và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Giữa kết quả nghiên cứu cơ bản và việc hình thành những sản phẩm, công nghệ có khả năng ứng dụng vẫn cần có sự kết nối hiệu quả hơn về cơ chế tổ chức, nguồn nhân lực và nguồn lực đầu tư. Đây cũng là khâu cần được quan tâm để những thành tựu nghiên cứu không chỉ dừng lại ở phạm vi học thuật mà có thể tạo ra tác động trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Theo đó, việc nâng cao năng lực khoa học quốc gia cần được nhìn nhận trên cả hai phương diện: tiếp tục cải thiện chất lượng công bố quốc tế và tăng cường khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị thực tiễn. Đây là hướng tiếp cận quan trọng nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư cho khoa học, đồng thời đưa tri thức và các thành tựu nghiên cứu trở thành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội”, Giáo sư Đặng Ứng Vận cho hay.
Nhìn vào quá trình phát triển khoa học và công nghệ, Giáo sư Đặng Ứng Vận cho biết, Việt Nam từng có những hướng nghiên cứu được tiếp tục phát triển qua các bước thử nghiệm, sản xuất ở quy mô nhỏ, trước khi tạo ra sản phẩm phục vụ thị trường. Một số sản phẩm từ quá trình này vẫn được sử dụng đến nay. Điều đó cho thấy kết quả nghiên cứu khoa học không chỉ có giá trị về mặt học thuật mà còn có thể đóng góp thiết thực cho đời sống kinh tế - xã hội, nếu được kết nối hiệu quả với các khâu hoàn thiện công nghệ và tổ chức sản xuất.
Tuy nhiên, để quá trình chuyển hóa đó diễn ra hiệu quả, nỗ lực của riêng các nhà khoa học là chưa đủ. Các nhóm nghiên cứu cơ bản thường có thế mạnh về phát hiện tri thức mới, xây dựng lý thuyết và giải quyết những vấn đề khoa học chuyên sâu. Trong khi đó, việc phát triển sản phẩm lại đòi hỏi thêm năng lực thiết kế, kỹ thuật, thử nghiệm, tổ chức sản xuất, đánh giá thị trường và huy động nguồn lực. Nếu thiếu sự phối hợp giữa các khâu này, những kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng có thể chưa được phát triển đến mức tạo ra tác động thực tế.
Bởi vậy, theo Giáo sư Đặng Ứng Vận, cần hình thành một hệ sinh thái liên kết giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và hoạt động phát triển sản phẩm. Trong hệ sinh thái đó, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và những đơn vị có năng lực triển khai cần phối hợp ngay từ khâu xác định vấn đề nghiên cứu, thay vì chỉ tìm cách kết nối sau khi công trình đã hoàn thành. Việc xác định sớm nhu cầu thực tiễn sẽ giúp định hướng nghiên cứu phù hợp hơn, đồng thời tạo điều kiện để những kết quả có tiềm năng được tiếp tục đầu tư, hoàn thiện và ứng dụng.
Một yếu tố khác đặc biệt quan trọng là vai trò của tổng công trình sư - người có khả năng tổ chức và điều phối toàn bộ quá trình phát triển công nghệ. Không đơn thuần là người quản lý một đề tài nghiên cứu, mà tổng công trình sư cần có tầm nhìn đủ rộng để nhận diện tiềm năng ứng dụng của tri thức khoa học, kết nối các nhóm chuyên môn, huy động nguồn lực và tổ chức triển khai thành dự án cụ thể. Có thể xem đây là vai trò của một người dẫn dắt tổng thể quá trình phát triển, giúp kết nối những mắt xích vốn thường vận hành tương đối độc lập.
Từ đó, Giáo sư Đặng Ứng Vận cho rằng Việt Nam cần quan tâm đồng thời đến chất lượng nghiên cứu, cơ chế phối hợp, nguồn nhân lực và năng lực tổ chức triển khai. Các dự án phát triển kinh tế-xã hội nên được thiết kế theo hướng gắn kết quả nghiên cứu với mục tiêu ứng dụng cụ thể, có sự tham gia của những nhóm chuyên môn phù hợp và có lộ trình phát triển từ nghiên cứu đến thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và tạo ra sản phẩm.
Như vậy, mục tiêu của khoa học Việt Nam không nên chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng công bố hoặc cải thiện thứ hạng quốc tế, mà cần từng bước nâng cao khả năng chuyển hóa tri thức thành năng lực công nghệ và giá trị thực tiễn. Khi công bố khoa học được đặt trong một hệ sinh thái có khả năng tiếp nhận, phát triển và ứng dụng kết quả nghiên cứu, những thành tựu học thuật sẽ có thêm cơ hội đóng góp trực tiếp cho đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://giaoduc.net.vn/giai-doan-2024-2026-so-bai-bao-khoa-hoc-cua-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-tang-manh-post263133.gd