Khó tuyển nghiên cứu sinh khiến ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản đứng trước nhiều nguy cơ

31/10/2026 06:22
Khánh Hòa
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo lãnh đạo các trường đại học, cần có chính sách học bổng, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu và gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn để thu hút người học theo đuổi chương trình tiến sĩ trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thủy sản.

Đào tạo tiến sĩ giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Tuy nhiên, theo số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố tại Hội nghị giáo dục đại học năm 2026, trong năm học 2025-2026, nhiều lĩnh vực có số lượng tuyển sinh dưới 500 nghiên cứu sinh, trong đó có nông - lâm nghiệp và thủy sản.

Thực trạng này đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách đào tạo, hỗ trợ tài chính và tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục với thị trường lao động nhằm thu hút người học, bảo đảm nguồn nhân lực nghiên cứu cho các lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Nhiều ngành nông - lâm nghiệp khó tuyển nghiên cứu sinh

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên cho biết, số lượng nghiên cứu sinh trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thủy sản còn thấp là vấn đề mang tính hệ thống, xuất phát từ cả phía người học, thị trường lao động và điều kiện tổ chức đào tạo.

Thứ nhất, nông nghiệp có vai trò chiến lược đối với an ninh lương thực, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp và cơ quan chuyên môn hiện nay chưa có nhu cầu tuyển dụng nhân lực trình độ tiến sĩ tương xứng với yêu cầu phát triển ngành. Chênh lệch về thu nhập và cơ hội nghề nghiệp giữa người có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ ở một số vị trí chưa đủ lớn để tạo động lực học tập cho người học.

Thứ hai, đào tạo tiến sĩ đòi hỏi thời gian dài, gắn với quá trình thực nghiệm và đầu tư đáng kể về công sức, tài chính cũng như thời gian dành cho nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu sinh phải dành nhiều thời gian, nguồn lực hơn so với một số lĩnh vực khác, từ chi phí học tập đến kinh phí phục vụ thí nghiệm, vật tư và hóa chất.

Thứ ba, nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp có những đặc thù riêng, như phải triển khai ngoài thực địa, trên đồng ruộng, trong trang trại, rừng hoặc cơ sở sản xuất; thí nghiệm phụ thuộc mùa vụ, chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, điều kiện khí hậu và dịch bệnh, dẫn đến chi phí thực nghiệm, vật tư, thiết bị và thu thập dữ liệu có thể lớn, trong khi điều kiện tài trợ nghiên cứu còn hạn chế.

Thứ tư, nguồn tuyển nghiên cứu sinh chủ yếu đến từ giảng viên các trường đại học, cán bộ viện nghiên cứu, cơ quan quản lý chuyên ngành và một bộ phận nhân sự doanh nghiệp. Tuy nhiên, những người có năng lực nghiên cứu tốt và trình độ ngoại ngữ thường có nhiều lựa chọn nghề nghiệp hấp dẫn, trong đó có cơ hội làm việc tại các tổ chức quốc tế hoặc học tiến sĩ ở nước ngoài. Điều này khiến các cơ sở giáo dục trong nước gặp khó khăn trong việc thu hút và giữ chân người học có năng lực nghiên cứu.

thau-quang.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên. Ảnh: NVCC.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang chia sẻ thêm, việc tuyển sinh nghiên cứu sinh thấp kéo dài có nguy cơ gây thiếu hụt đội ngũ chuyên gia trình độ cao trong tương lai, nhất là ở những chuyên ngành chuyên sâu như chọn tạo giống, công nghệ sinh học nông nghiệp, bảo vệ thực vật, dinh dưỡng và sinh sản vật nuôi, quản lý tài nguyên rừng và nuôi trồng thủy sản.

Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ. Nông nghiệp hiện đại đang chuyển mạnh sang công nghệ sinh học, công nghệ gen, trí tuệ nhân tạo, nông nghiệp chính xác, công nghệ số và sản xuất xanh. Việc thiếu nhân lực nghiên cứu trình độ cao có thể làm chậm quá trình tiếp nhận, phát triển và làm chủ những công nghệ này.

Không chỉ vậy, việc này làm suy giảm nguồn nhân lực kế cận cho các trường đại học, viện nghiên cứu. Đào tạo tiến sĩ là một kênh quan trọng để phát triển đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và các nhóm nghiên cứu chuyên sâu. Nguồn tuyển hạn chế kéo dài có thể ảnh hưởng đến việc phát triển những nhóm nghiên cứu mạnh và duy trì các hướng nghiên cứu dài hạn.

Quan trọng hơn là hạn chế khả năng giải quyết những thách thức phát triển nông nghiệp bền vững. Hiện nay biến đổi khí hậu, dịch bệnh, suy thoái đất, suy giảm đa dạng sinh học và yêu cầu giảm phát thải đang đặt ra những bài toán khoa học ngày càng phức tạp. Những vấn đề này đòi hỏi đội ngũ chuyên gia có khả năng nghiên cứu độc lập, liên ngành và phát triển công nghệ mới.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Bùi Ngọc Hùng - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, đào tạo tiến sĩ góp phần hình thành đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu, chuyên gia đầu ngành và lực lượng khoa học kế cận. Việc tuyển sinh nghiên cứu sinh sụt giảm kéo dài sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy.

Đầu tiên là xảy ra nguy cơ "hẫng hụt thế hệ" chuyên gia đầu ngành. Độ tuổi trung bình của đội ngũ giáo sư, phó giáo sư và các nhà khoa học trụ cột trong khối nông - lâm nghiệp và thủy sản hiện khá cao. Nếu không có lực lượng nghiên cứu sinh bổ sung kịp thời, chỉ trong khoảng 5-10 năm tới sẽ thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ giảng viên trình độ cao và chuyên gia đầu ngành kế cận.

Tiếp đó là đứt gãy các hướng nghiên cứu chuyên sâu. Khác với nhiều lĩnh vực khác, nghiên cứu nông nghiệp đòi hỏi sự kế thừa liên tục qua nhiều thế hệ, từ duy trì quỹ gen, chọn tạo giống gốc đến theo dõi thổ nhưỡng, dịch bệnh. Thiếu nghiên cứu sinh đồng nghĩa với việc nhiều đề tài dài hạn bị bỏ dở và nhiều hướng nghiên cứu truyền thống nguy cơ bị xóa sổ.

Việc tuyển sinh ít nghiên cứu sinh còn làm hạn chế khả năng hội nhập và thu hút nguồn lực quốc tế. Các quỹ nghiên cứu lớn trên thế giới khi tài trợ dự án luôn đòi hỏi năng lực của đội ngũ nghiên cứu sinh và trợ lý nghiên cứu (Postdoc). Việc tuyển sinh thấp sẽ làm giảm sức hút của Việt Nam trong mạng lưới hợp tác học thuật toàn cầu.

nic-7486-2.jpg
Tiến sĩ Bùi Ngọc Hùng - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

Thông tin thêm về tình hình tuyển sinh nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Tiến sĩ Bùi Ngọc Hùng cho biết, nhà trường hiện có 12 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ. Tương tự như mặt bằng chung của khối ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản trên toàn quốc, số nghiên cứu sinh nhập học hàng năm đạt khoảng 40-60% chỉ tiêu.

Theo đó, nhóm ngành có nguồn ứng viên ổn định gồm: Thú y, Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm. Đây là những ngành có sự tham gia mạnh mẽ của khối doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn đa quốc gia, tạo ra nhu cầu nhân lực trình độ cao và mức đãi ngộ hấp dẫn. Nhóm ngành còn gặp nhiều thách thức như: Lâm nghiệp, Thủy sản, Nông học Chăn nuôi và Kỹ thuật cơ khí nông nghiệp. Đây là các ngành đòi hỏi chi phí thực nghiệm lớn, địa bàn nghiên cứu rộng, nhưng thị trường lao động khu vực công chưa tạo đủ sức hút về thu nhập.

Cần chính sách đồng bộ để thu hút nghiên cứu sinh

Từ thực tế tuyển sinh nghiên cứu sinh gặp nhiều khó khăn, các chuyên gia cho rằng cần có chính sách đủ mạnh để hỗ trợ người học và nâng cao sức hút của chương trình đào tạo tiến sĩ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trường - Phó Trưởng khoa, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế) cho biết, đối tượng học nghiên cứu sinh tại khu vực miền Trung chủ yếu là giảng viên các trường đại học, cán bộ viện nghiên cứu và cơ quan nhà nước. Đối tượng đang làm việc tại khu vực tư nhân thường ít theo học tiến sĩ do chưa có nhu cầu rõ ràng về trình độ này trong công việc. Như vậy, có thể thấy nhu cầu sử dụng nhân lực trình độ cao tại doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân khiến nguồn tuyển nghiên cứu sinh chưa đa dạng.

Bên cạnh đó, trong quá trình học, ngoài học phí, nghiên cứu sinh còn phải đầu tư kinh phí thực hiện đề tài, thu thập số liệu và triển khai các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu. Những khoản chi phí này tạo thêm áp lực tài chính, ảnh hưởng đến khả năng theo đuổi chương trình tiến sĩ của người học.

Vì vậy, để thu hút thêm người học cần có giải pháp đồng bộ từ việc nâng cao nhu cầu sử dụng nhân lực trình độ tiến sĩ tại khu vực tư nhân đến hỗ trợ tài chính trong quá trình đào tạo. Trong đó, tăng cường học bổng và các nguồn kinh phí hỗ trợ nghiên cứu sẽ góp phần giảm gánh nặng chi phí, tạo điều kiện để người học yên tâm theo đuổi chương trình học hơn.

Không chỉ vậy, cần đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, nhất là hệ thống thư viện điện tử và trang thiết bị phòng thí nghiệm. Mức đầu tư cho những hạng mục này tại nhiều cơ sở giáo dục đại học trong nước còn hạn chế so với trường đại học nước ngoài, gây ảnh hưởng đến điều kiện tiếp cận tài liệu cũng như triển khai nghiên cứu chuyên sâu của nghiên cứu sinh.

khoa-hoc-hue-2-105643-684.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trường (bên phải) - Phó Trưởng khoa, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế). Ảnh website nhà trường.

Trong khi đó, Tiến sĩ Bùi Ngọc Hùng cho rằng, muốn nâng cao sức hút đào tạo tiến sĩ, bắt buộc phải đặt vấn đề này trong chiến lược phát triển hạ tầng trí thức và nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia, thay vì chỉ xem đây là bài toán tuyển sinh sau đại học.

Theo đó, cần đột phá về chính sách tài chính cho người học. Chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình "tiến sĩ tự túc" sang mô hình "nghiên cứu sinh có học bổng và được trả lương". Cần có quỹ học bổng quốc gia hoặc quy định bắt buộc trích % kinh phí từ các đề tài, dự án khoa học và công nghệ để chi trả sinh hoạt phí, kinh phí thực nghiệm cho nghiên cứu sinh, nhất là ở các ngành chiến lược nhưng khó tuyển.

Song song với đó, cần gắn kết giữa đào tạo tiến sĩ với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Quy định việc đào tạo nghiên cứu sinh là một chỉ số đầu ra bắt buộc (KPI) trong các đề tài khoa học và công nghệ cấp Quốc gia, cấp Bộ và các chương trình mục tiêu quốc gia về nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu.

Hiện thực hóa mô hình liên kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh cơ chế doanh nghiệp "đặt hàng" đề tài và đồng tài trợ nghiên cứu cũng rất cần thiết. Doanh nghiệp không chỉ hỗ trợ nguồn lực mà còn là nơi hấp thụ, sử dụng đội ngũ tiến sĩ sau khi tốt nghiệp với mức đãi ngộ xứng đáng.

Quan trọng nhất là cần đổi mới cơ chế tuyển dụng và trọng dụng nhân tài; xóa bỏ rào cản về cơ chế tiền lương, môi trường làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập; ghi nhận và tôn vinh xứng đáng các kết quả nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ có tác động xã hội lớn.

Tuy nhiên, cần chính sách tổng thể mang tính chiến lược cho toàn bộ chuỗi đào tạo ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản, xuyên suốt từ bậc đại học, thạc sĩ đến tiến sĩ. Nếu chỉ giải quyết phần "ngọn" ở bậc tiến sĩ mà thiếu nguồn tuyển chất lượng từ bậc đại học bài toán vẫn sẽ bế tắc.

sinh-vien-hue.jpg
Ảnh minh họa: website Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế).

Còn theo Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên, cần có chính sách đồng bộ, không chỉ hỗ trợ người học mà tạo điều kiện để nghiên cứu sinh có thể làm nghiên cứu thực chất, có việc làm và phát triển nghề nghiệp sau tốt nghiệp.

Trước hết, cần có chính sách học bổng và hỗ trợ tài chính đủ hấp dẫn để thu hút người học. Bên cạnh các chương trình hiện cần nghiên cứu xây dựng chính sách học bổng dành riêng cho nghiên cứu sinh thuộc những ngành nông nghiệp có vai trò chiến lược nhưng khó tuyển sinh. Các chính sách cần hỗ trợ kinh phí sinh hoạt, học phí và đặc biệt là chi phí thực hiện đề tài luận án. Đồng thời, khuyến khích địa phương, doanh nghiệp và tổ chức khoa học tham gia tài trợ nghiên cứu sinh theo nhu cầu phát triển nguồn nhân lực.

Tiếp đó, cần gắn đào tạo tiến sĩ với nhiệm vụ khoa học công nghệ, có cơ chế để nghiên cứu sinh tham gia thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ và cấp tỉnh. Đồng thời, phát triển mô hình đào tạo tiến sĩ gắn với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các đơn vị sản xuất nông nghiệp.

Một vấn đề quan trọng khác là xây dựng cơ chế tuyển dụng, trọng dụng và đãi ngộ tiến sĩ trong các cơ quan nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và địa phương. Có chính sách thu hút tiến sĩ làm việc tại vùng nông nghiệp trọng điểm, miền núi và những lĩnh vực chuyên môn đang thiếu chuyên gia.

Để mở rộng cơ hội tiếp cận chương trình tiến sĩ, các cơ sở giáo dục nên đổi mới phương thức tổ chức đào tạo và tăng cường liên kết quốc tế. Chẳng hạn, chương trình liên kết giữa Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên và Đại học Hiroshima (Nhật Bản) đã tuyển được 19 nghiên cứu sinh thuộc 6 ngành nông - lâm nghiệp trong 3 năm. Đây là cơ sở thực tiễn cho thấy tiềm năng của mô hình liên kết trong thu hút người học, đồng thời đặt ra yêu cầu cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp để chương trình này phát huy hiệu quả.

Cuối cùng, cần tổ chức hoạt động học thuật linh hoạt, phù hợp với đối tượng đang công tác, nhưng phải bảo đảm thời gian, yêu cầu nghiên cứu và chuẩn chất lượng của chương trình đào tạo.

Khánh Hòa