Đề xuất sáng kiến phải hiệu quả thực tế mới công nhận danh hiệu thi đua, tránh giải pháp "trên giấy"

15/09/2026 06:40
Nguyễn Ninh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Nhiều giải pháp khẳng định “hiệu quả vượt trội” nhưng phần minh chứng và thang đo lại vô cùng mơ hồ. Biểu đồ vẽ vội vã, tiêu chí không rõ ràng, chú thích và số liệu không khớp nhau.

Bản chất của một sáng kiến trong trường học là đề xuất những giải pháp đổi mới quản trị, cải tiến phương pháp giảng dạy hay hoạt động chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Thế nhưng, một thực tế đáng buồn đang diễn ra là không ít giáo viên viết sáng kiến chỉ vì thành tích thi đua. Từ đó, đề tài trở nên sáo rỗng, rập khuôn và thiếu sức thuyết phục. Từ góc độ của một người trực tiếp tham gia thẩm định, chấm sáng kiến, người viết xin chia sẻ một số góc nhìn thực tế nhằm nâng cao chất lượng cho các đề tài của giáo viên.

image.jpg
Ảnh minh họa.

Những “hạt sạn” thường gặp trong các đề tài sáng kiến

Thứ nhất, lạm dụng công nghệ làm mờ nhạt vai trò người học. Trước làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI) bùng nổ, nhiều tác giả hào hứng hướng dẫn học sinh dùng công cụ này làm “trợ lý học tập”. Chẳng hạn, đề tài hướng dẫn học sinh viết đoạn/bài văn nghị luận xã hội bằng cách sử dụng trợ lý AI để “phát triển tư duy sáng tạo và năng lực”. Ý tưởng mới mẻ nhưng cách triển khai thì sai lệch, lạm dụng AI quá đà khiến học sinh phụ thuộc tuyệt đối. Từ tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý cho đến viết bài và chỉnh sửa, học sinh đều chỉ ra lệnh cho AI làm thay. Điều này không những không kích thích tư duy sáng tạo, mà ngược lại, đang triệt tiêu năng lực tư duy độc lập của các em.

Thứ hai, sai lệch kiến thức cơ bản và chậm cập nhật kiến thức chương trình mới. Đây là điều đáng lo ngại về đội ngũ nhà giáo trẻ. Việc tổ chức một đoạn văn nghị luận được thống nhất nhiều lần trong các đợt sinh hoạt chuyên môn và hội nghị ôn thi tốt nghiệp. Nhưng giáo viên vẫn dạy học sinh biến đoạn văn thành một “bài văn thu nhỏ” rườm rà, không đảm bảo dung lượng. Chưa dừng lại ở đó, việc cập nhật Khung Chương trình Ngữ văn 2018 của một số giáo viên còn rất chậm. Minh chứng là nhiều người vẫn thiết kế chuyên đề ôn tập “phương thức biểu đạt và phong cách ngôn ngữ” cho học sinh lớp 12, thậm chí còn đặt câu hỏi kiểm tra xuyên suốt trong đề kiểm tra định kỳ. Đây là những khái niệm vốn không còn được dạy độc lập như trong chương trình cũ.

Thứ ba, giải pháp sáng kiến luẩn quẩn trong lối mòn, không có tính đột phá. Nhiều đề tài chỉ liệt kê hời hợt, viết lại hướng dẫn của sách giáo khoa chứ không hề có cải tiến. Chẳng hạn, đề tài chỉ gắn mác rèn học sinh “viết sáng tạo” trong văn bản nghị luận xã hội nhưng sáng kiến chỉ thuật lại quy trình làm bài khô khan, không có gì mới mẻ. Hoặc đề tài hướng dẫn học sinh phân tích tác phẩm theo phương pháp “phân tích mẫu” rập khuôn sách giáo khoa. Cá biệt, có giáo viên còn đưa cả “bộ bài tây” vào làm đồ dùng dạy học. Việc lồng ghép này, nếu không khéo dễ gây tác dụng ngược, ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức và lối sống của học sinh.

Thứ tư, thiếu minh chứng khoa học, số liệu sơ sài và cẩu thả về thể thức. Nhiều giải pháp khẳng định “hiệu quả vượt trội” nhưng phần minh chứng và thang đo lại vô cùng mơ hồ. Biểu đồ vẽ vội vã, tiêu chí không rõ ràng, chú thích và số liệu không khớp nhau. Táo bạo hơn, có đề tài lấy kết quả của ba bài kiểm tra định kỳ liên tiếp trong một lớp để đo lường hiệu quả. Cách làm này phơi bày sự hời hợt trong năng lực kiểm tra đánh giá. Bởi trong kế hoạch giáo dục, ba lần kiểm tra định kỳ liên tiếp trong năm cho một kiểu bài nghị luận xã hội. Tương tự, định hướng dạy học “thông qua trò chơi” nhưng lý thuyết mơ hồ nên giải pháp thực chất chỉ là kỹ thuật dạy học thông thường, chưa phải là trò chơi thực thụ.

Thứ năm, số liệu minh chứng sự tiến bộ của học sinh phi thực tế, thiếu tính khách quan. Đề tài thực nghiệm chỉ vỏn vẹn 15 tuần ngắn ngủi nhưng số liệu học sinh tiến bộ lại “phi mã”. Đầu năm, khoảng 40% học sinh biết phản biện, sau 15 tuần tỷ lệ này tăng tuyệt đối 100% phản biện tốt. Đây là những con số “biết nói”. Thực tế, kỹ năng phản biện là kỹ năng tư duy bậc cao, đòi hỏi quá trình rèn luyện lâu dài chứ không thể trong một sớm một chiều. Từ đó, người chấm có cơ sở hoài nghi về tính trung thực của công trình. Ngoài ra, nhiều “hạt sạn” khác như đề tài hoàn chỉnh nhưng vẫn để “Đề cương sáng kiến”, hay số phiếu khảo sát học sinh khi phát ra và thu về chênh lệch hơn 10 phiếu tại lớp giáo viên dạy. Điều này khó chấp nhận về tính nghiêm túc của công trình. Thậm chí, người chấm dễ tư duy tác giả chủ động lọc bỏ phiếu của học sinh yếu kém để “làm đẹp” số liệu.

Đề xuất những giải pháp đồng bộ nhằm nâng chất lượng

Từ những thực trạng trên, theo người viết, để sáng kiến thực sự đi vào đời sống học đường thì ngành giáo dục địa phương cần triển khai đồng bộ những giải pháp cốt lõi.

Thứ nhất, tổ chức hội nghị viết sáng kiến một cách bài bản hàng năm. Sở Giáo dục và Đào tạo có thể mời chuyên gia từ các trường đại học sư phạm về tập huấn đại trà cho giáo viên. Bởi đây là hoạt động chuyên môn quan trọng của ngành, cần đầu tư một cách thỏa đáng để nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng thời, phương pháp nghiên cứu và cách thức viết sáng kiến cũng được thống nhất trong toàn tỉnh. Khi đó, người viết và người chấm cùng tiếp cận một quy chuẩn thì việc đánh giá sẽ công bằng và dễ dàng hơn.

Thứ hai, kiên quyết bài trừ bệnh thành tích trong giáo dục. Chỉ khi nào áp lực thi đua được cởi bỏ thì sáng kiến mới xuất phát từ trăn trở và khó khăn thực tế nơi giảng đường. Và khi ấy, giáo viên sẽ viết bằng cái tâm, nói không với sao chép và không “tô vẽ” số liệu hay áp dụng mô hình rập khuôn, máy móc, dễ gây nhàm chán.

Thứ ba, xây dựng ngân hàng dữ liệu điện tử công khai. Sở nên tập hợp và công khai các sáng kiến đạt giải hàng năm trên trang thông tin của ngành. Đây là điều mà nhiều giáo viên mong mỏi từ rất lâu. Bởi hiện tượng “mượn/xin” sáng kiến của đồng nghiệp ở trường/tỉnh khác vẫn còn khá phổ biến. Thậm chí có người còn mua trên mạng, dù người chấm ở trường biết nguồn gốc sáng kiến nhưng vì nể nang không chấm rớt. Có thể nói, giải pháp này vừa cung cấp nguồn tư liệu chính thống cho giáo viên tham khảo và ứng dụng vào dạy học vừa giúp hội đồng thẩm định dễ dàng đối chiếu, phát hiện ra các trường hợp vi phạm liêm chính học thuật.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ để kiểm soát đạo văn. Trong thời đại công nghệ số, nhiều phần mềm phát hiện đạo văn có uy tín khá phổ biến. Như tại các cơ sở giáo dục đại học, nơi các luận văn đều được kiểm tra đạo văn nghiêm ngặt trước khi ra Hội đồng khoa học. Sáng kiến cũng cần được quét kiểm tra qua phần mềm uy tín. Nếu áp dụng quy định này ngay từ đầu, thì người viết sẽ tự ý thức tự nghiên cứu, tự viết. Từ đó, sự liêm chính trong hoạt động này cũng được đảm bảo.

Thiết nghĩ, mỗi sáng kiến là một công trình khoa học sư phạm ứng dụng với mục tiêu là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đã đến lúc cần thay đổi tư duy: Chỉ khi nào sáng kiến được áp dụng vào giảng dạy và chứng minh được hiệu quả rõ rệt trên thực tế thì lúc đó mới được công nhận danh hiệu thi đua. Có như vậy, sáng kiến mới không còn là những con chữ khô khan trên giấy, mà thực sự bắt nguồn từ trăn trở nơi giảng đường để giải quyết những bài toán khó của thực tiễn dạy học.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Nguyễn Ninh