Năm học 2026-2027 được xem là một năm học có nhiều thay đổi quan trọng về cơ chế quản lý nhà giáo, chế độ làm việc, tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng, đánh giá, chuẩn nghề nghiệp và tổ chức bộ máy trường học. Nhiều quy định mới đã chính thức có hiệu lực từ năm 2026, tác động trực tiếp đến công việc, quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo viên.
Dưới đây là tổng hợp các quy định, chính sách mới được áp dụng từ năm học 2026-2027, cán bộ quản lý, giáo viên cần biết.
Thứ nhất, từ ngày 1/9/2026, nhà giáo đã nghỉ hưu có thể tiếp tục giảng dạy theo hợp đồng toàn thời gian
Một trong những chính sách mới trực tiếp và đáng chú ý nhất đối với đội ngũ nhà giáo từ tháng 9/2026 là Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Văn bản chính thức có hiệu lực từ ngày 1/9/2026.
Theo Điều 4 Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT, nhà giáo đã nghỉ hưu muốn được ký hợp đồng toàn thời gian phải đáp ứng nhiều điều kiện. Trong đó, phải có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp tốt; không đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt; đáp ứng yêu cầu về sức khỏe; có trình độ đào tạo, năng lực nghề nghiệp phù hợp với vị trí việc làm và có khả năng ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy.
Quy định này có ý nghĩa rất thiết thực trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn thiếu giáo viên ở một số môn học. Thay vì coi việc nghỉ hưu đồng nghĩa với chấm dứt hoàn toàn hoạt động nghề nghiệp, chính sách mới tạo cơ chế để các cơ sở giáo dục tiếp tục khai thác kinh nghiệm, chuyên môn của những nhà giáo có năng lực và còn khả năng đáp ứng yêu cầu công việc.
Đáng chú ý, Điều 6 Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT quy định tiền lương, phụ cấp và các quyền lợi khác của nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu được thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động và quy định của pháp luật. Các khoản có tính chất phụ cấp như thâm niên, ưu đãi nghề hoặc hỗ trợ đặc thù có thể được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm ghi nhận trình độ, kinh nghiệm và đóng góp của nhà giáo.
Thứ hai, khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được thay đổi
Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân chính thức có hiệu lực từ ngày 07/9/2026. Đây là chính sách có tính hệ thống, tác động đến cách xác định các cấp học, chương trình giáo dục, sự chuyển tiếp và liên thông trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo Điều 3 Quyết định 38/2026/QĐ-TTg, khung cơ cấu mới nhằm xác lập cấu trúc tổng thể của hệ thống giáo dục quốc dân; phân biệt, phân loại, sắp xếp các loại chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; làm căn cứ cho việc xây dựng, rà soát và điều chỉnh chương trình giáo dục một cách thống nhất, bảo đảm định hướng lộ trình học tập của người học và sự vận hành đồng bộ của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Thời gian học tập tiêu chuẩn của các cấp học
và trình độ đào tạo (Kèm theo Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ)
| Cấp học | Thời gian học tập tiêu chuẩn |
| Mầm non | Từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi |
| Tiểu học | 5 năm |
| Trung học cơ sở | 4 năm |
| Sơ cấp | Từ 3 tháng đến 1 năm |
| Trung học phổ thông Trung học nghề | 3 năm |
| Trung cấp | Từ 1 năm đến 2 năm |
| Cao đẳng | Từ 2 năm đến 3 năm |
| Đại học (Cử nhân) | Từ 3 năm đến 4 năm |
| Thạc sĩ | Từ 1 năm đến 2 năm |
| Tiến sĩ | Từ 3 năm đến 4 năm |
Thứ ba, khung trình độ quốc gia Việt Nam được áp dụng theo quy định mới
Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 về Khung trình độ quốc gia Việt Nam chính thức có hiệu lực từ ngày 7/9/2026. Quy định mới xác định Khung trình độ quốc gia Việt Nam gồm 8 bậc trình độ, được sắp xếp theo mức độ tăng dần về kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân.
Theo đó, khung trình độ quốc gia được chia làm 8 bậc trình độ. Điểm đáng chú ý là mỗi bậc trình độ được mô tả theo ba thành phần chính gồm kiến thức; kỹ năng; mức độ tự chủ và trách nhiệm. Đây là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại, trong đó kết quả giáo dục không chỉ được đo bằng lượng kiến thức học sinh ghi nhớ mà còn bằng khả năng vận dụng và mức độ tự chủ trong học tập, công việc.
Theo đó một trong các mục đích là nhằm hỗ trợ người học định hướng lộ trình học tập và phát triển nghề nghiệp thông qua việc công khai, minh bạch yêu cầu về kết quả học tập của từng bậc trình độ, tạo điều kiện cho học tập suốt đời, liên thông và chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo.
Thứ tư, từ năm học 2026-2027, việc sắp xếp trường học làm thay đổi đáng kể cơ cấu cán bộ quản lý
Một chính sách có tác động rất lớn đến hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên trong năm học mới là Nghị quyết số 37/2026/NQ-CP ngày 5/8/2026 của Chính phủ về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc và nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày ban hành.
Theo Điều 4 Nghị quyết 37/2026/NQ-CP, mỗi cơ sở giáo dục có một hiệu trưởng hoặc giám đốc. Đối với cơ sở giáo dục phổ thông, trường chính được bố trí một phó hiệu trưởng; mỗi phân hiệu được bố trí một phó hiệu trưởng theo cơ cấu được quy định. Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức lại bộ máy sau khi nhiều trường được sáp nhập, hợp nhất.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu mới đối với hiệu trưởng. Người đứng đầu trường sau sáp nhập phải quản trị một cơ sở giáo dục có thể có nhiều địa điểm hoạt động, nhiều tổ chuyên môn, số lượng học sinh lớn hơn và đội ngũ đa dạng hơn. Công tác phân công giáo viên, tổ chức chuyên môn, quản lý tài sản, hồ sơ, học sinh và phối hợp giữa trường chính với phân hiệu phải được thiết kế lại.
Thứ năm, lương cơ sở tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng, tác động trực tiếp đến tiền lương và phụ cấp giáo viên
Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 2.530.000 đồng/tháng theo Điều 3 Nghị định số 161/2026/NĐ-CP. Nghị định này thay thế quy định trước đây về mức lương cơ sở và có ý nghĩa trực tiếp đối với đội ngũ giáo viên, viên chức trong các cơ sở giáo dục công lập.
Theo Điều 3, mức lương cơ sở được sử dụng làm căn cứ để tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác đối với đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh. Như vậy, giáo viên đang hưởng lương theo hệ số sẽ được tính tiền lương theo mức lương cơ sở mới từ thời điểm áp dụng.
Lương cơ sở tăng góp phần cải thiện thu nhập nhà giáo, giúp họ yên tâm công tác, cống hiến.
Thứ sáu, phụ cấp ưu đãi nghề của nhà giáo được điều chỉnh theo Nghị định mới
Một trong những chính sách được giáo viên đặc biệt quan tâm trong năm học 2026-2027 là Nghị định số 182/2026/NĐ-CP ngày 22/5/2026 của Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục công lập. Nghị định có hiệu lực từ ngày 7/7/2026.
Theo các quy định tại Điều 3, Điều 4 và Điều 8 Nghị định 182/2026/NĐ-CP, mức phụ cấp được xác định theo nhóm đối tượng, loại hình cơ sở giáo dục và địa bàn công tác. Nhà giáo làm việc trong những điều kiện đặc thù được hưởng mức cao hơn so với điều kiện thông thường.
Điểm đáng chú ý là chính sách mới không chỉ hướng đến giáo viên trực tiếp giảng dạy mà còn mở rộng phạm vi đối tượng được hưởng sang cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục theo các điều kiện được quy định.
Thứ bảy, giáo viên vẫn được xét thăng hạng đến hết 31/12/2026
Ngày 10/8/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn 5243/BGDĐT-NGCBQLGD hướng dẫn thực hiện công tác quản lý đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục.
Tại mục 5 Công văn 5243/BGDĐT-NGCBQLGD về việc tổ chức xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với nhà giáo Khoản 9 Điều 62 Nghị định số 259/2026/NĐ-CP quy định “trường hợp pháp luật về nhà giáo có quy định khác về thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức là nhà giáo thì thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà giáo và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo”.
Vì vậy, tiếp tục thực hiện các đề án, kế hoạch tuyển dụng, tiếp nhận, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp nhà giáo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 30/6/2026 đến hết ngày 31/12/2026 theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 93/2026/NĐ-CP. Khi xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, tiếp tục áp dụng các quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và thăng hạng chức danh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành trước ngày Nghị định số 93/2026/NĐCP có hiệu lực thi hành.
Thứ tám, sẽ cắt giảm các cuộc thi, hồ sơ không cần thiết
Trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2026 - 2027 với giáo dục mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu cụ thể về cải cách hành chính, quản trị trường học. Trong đó nêu rõ: "Cắt giảm triệt để hồ sơ, sổ sách, báo cáo trùng lặp, hình thức; từ học kỳ 1 năm học 2026 - 2027 tuyệt đối không phát sinh hồ sơ ngoài quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo"
"Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích trong đánh giá, bảo đảm thực chất, hiệu quả; cắt giảm triệt để các cuộc thi và yêu cầu hồ sơ, báo cáo hành chính không cần thiết nhằm giảm áp lực cho giáo viên và nhà trường", hướng dẫn nêu.
Thứ chín, tuyển dụng và đánh giá nhà giáo chuyển mạnh sang đánh giá năng lực thực tế
Luật Nhà giáo và các văn bản hướng dẫn năm 2026 đang tạo ra một thay đổi căn bản trong cách nhìn về tuyển dụng, sử dụng và đánh giá giáo viên.
Theo Điều 14 Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15, tuyển dụng nhà giáo phải căn cứ vào vị trí việc làm và chuẩn nghề nghiệp; việc tuyển dụng có thể thực hiện bằng thi tuyển hoặc xét tuyển và gắn với yêu cầu thực hành sư phạm. Nội dung này được cụ thể hóa trong Nghị định số 93/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 31/3/2026.
Theo quy định về thi tuyển, việc tuyển dụng không chỉ kiểm tra kiến thức chung mà còn có phần đánh giá năng lực chuyên môn, nghiệp vụ thông qua thực hành sư phạm. Đây là thay đổi rất đáng chú ý bởi nghề giáo là nghề có tính thực hành cao.
Một người có kiến thức chuyên môn tốt nhưng không có khả năng tổ chức hoạt động học tập, giao tiếp sư phạm, xử lý tình huống và hỗ trợ học sinh thì chưa chắc đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nghề.
Thứ mười, khung năng lực số mới đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với giáo viên và cán bộ quản lý
Một chính sách mới khác rất đáng quan tâm là Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT ngày 27/3/2026 ban hành Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên. Văn bản có hiệu lực từ ngày 12/5/2026.
Điểm quan trọng của chính sách này là năng lực số không còn được nhìn nhận đơn thuần như khả năng sử dụng máy tính, phần mềm trình chiếu hoặc nhập điểm. Trong quá trình chuyển đổi số giáo dục, giáo viên cần có khả năng khai thác công nghệ để thiết kế hoạt động dạy học, kiểm tra đánh giá, quản lý dữ liệu và hỗ trợ quá trình học tập của học sinh.
Đối với cán bộ quản lý, năng lực số còn gắn với quản trị nhà trường, khai thác dữ liệu, điều hành công việc, bảo đảm an toàn thông tin và sử dụng các nền tảng số phục vụ quản lý.
Đáng chú ý, Thông tư 18 được đặt trong bối cảnh ngành giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Điều đó có nghĩa giáo viên trong năm học 2026-2027 không chỉ cần "biết dùng công nghệ" mà phải từng bước sử dụng công nghệ đúng mục đích, an toàn, hiệu quả và có kiểm soát.
Nhìn tổng thể, nhiều chính sách mới được triển khai từ năm học 2026-2027 cho thấy những thay đổi đang đi theo hướng tích cực, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao vị thế và tạo điều kiện tốt hơn cho đội ngũ nhà giáo. Từ tiền lương, phụ cấp, chế độ làm việc, tuyển dụng, đánh giá đến tổ chức bộ máy và phát triển năng lực số, các chính sách đều hướng tới mục tiêu sử dụng, đãi ngộ và quản lý giáo viên một cách khoa học, thực chất hơn.
Kỳ vọng rằng, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện thống nhất, những chính sách mới sẽ thực sự đi vào cuộc sống, giúp giáo viên yên tâm gắn bó với nghề, cán bộ quản lý thuận lợi hơn trong điều hành nhà trường và quan trọng nhất là tạo thêm điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian tới.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.