Vừa qua, thông tin Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh thu "học phí quá hạn" được dư luận quan tâm. Theo lãnh đạo nhà trường, đây chỉ là biện pháp mang tính cảnh báo, nhằm thúc đẩy sinh viên chủ động hoàn thành các điều kiện tốt nghiệp. Sau khi tiếp nhận ý kiến phản hồi từ sinh viên, nhà trường cũng đã bãi bỏ quy định này.[1]
Thực tế, tình trạng sinh viên quá hạn tốt nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người học mà còn gây áp lực cho công tác quản trị và hiệu quả đào tạo của nhà trường.
Nhiều lý do khiến sinh viên quá hạn tốt nghiệp
Theo Tiêu chí 5.3, Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, tỷ lệ tốt nghiệp được xác định là tỷ lệ người học tốt nghiệp không chậm quá 2 năm so với thời gian đào tạo theo kế hoạch học tập chuẩn phải đạt tối thiểu 60%; trong đó, tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn không thấp hơn 40%.
Dù vậy, qua khảo sát của phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam từ Báo cáo thường niên năm học 2025-2026, một số cơ sở giáo dục đại học có tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn khá thấp, có trường còn chưa đạt chuẩn như.
Trao đổi với phóng viên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thành - Trưởng phòng, Phòng Công tác chính trị - Sinh viên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, tình trạng sinh viên quá hạn tốt nghiệp là vấn đề diễn ra ở nhiều cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt tại các trường thuộc khối kỹ thuật. Thực tế cho thấy, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn ở nhóm ngành này thường thấp hơn so với khối ngành kinh tế do đặc thù chương trình đào tạo có yêu cầu cao về kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành.
Phân tích nguyên nhân, thầy Thành cho rằng trước hết xuất phát từ việc lựa chọn ngành học. Không ít học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông đăng ký vào ngành hoặc chuyên ngành chưa thực sự phù hợp với năng lực và sở trường của bản thân. Khi bước vào môi trường đại học, các em phải mất thời gian để điều chỉnh phương pháp học tập cũng như đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo.
Bên cạnh đó, khả năng thích ứng với môi trường học tập mới cũng là một rào cản đối với nhiều tân sinh viên. Khác với bậc phổ thông, giáo dục đại học đề cao tính tự học và tự nghiên cứu. Theo thầy Thành, với mỗi giờ học trên lớp, sinh viên cần dành thêm khoảng hai giờ tự học ở nhà. Tuy nhiên, không phải sinh viên nào cũng nhanh chóng thay đổi tư duy và phương pháp học tập, khiến kết quả học tập trong học kỳ đầu, thậm chí năm học đầu tiên, bị ảnh hưởng.
Một nguyên nhân khác là yêu cầu ngày càng cao về chuẩn đầu ra. Hiện nay, các trường đại học áp dụng mô hình đào tạo theo hướng đầu vào linh hoạt nhưng đầu ra được kiểm soát chặt chẽ. Để đủ điều kiện tốt nghiệp, sinh viên không chỉ hoàn thành khối lượng tín chỉ mà còn phải đáp ứng các chuẩn về ngoại ngữ, tin học, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng và các điều kiện khác theo quy định. Theo thầy Thành, đây là mô hình được nhiều quốc gia phát triển áp dụng nhằm bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực trước khi tham gia thị trường lao động.
“Một trong những rào cản lớn đối với các trường đại học trong việc nâng tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn là năng lực ngoại ngữ của người học, đặc biệt tại các trường thuộc khối kỹ thuật. Trong những năm gần đây, tiếng Anh là môn tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, nên một bộ phận học sinh không có định hướng học môn này.
Khi sinh viên chưa có nền tảng ngoại ngữ, áp lực đào tạo và bù đắp kiến thức phần nào được chuyển sang các trường đại học. Tuy nhiên, trong đào tạo theo tín chỉ, thời lượng dành cho các học phần tiếng Anh bắt buộc thường khá hạn chế. Chương trình chỉ bố trí khoảng 6 tín chỉ tiếng Anh trong tổng số khoảng 150 tín chỉ của chương trình đào tạo kỹ sư. Thời lượng này khó có thể đủ để hình thành năng lực ngoại ngữ đáp ứng chuẩn đầu ra nếu sinh viên không chủ động tự học và tích lũy trong suốt quá trình đào tạo.
Nhiều trường bố trí các học phần ngoại ngữ ở năm thứ nhất hoặc năm thứ hai, trong khi sinh viên thường đến năm thứ ba, thứ tư mới thực hiện các kỳ thi chuẩn đầu ra. Khoảng thời gian kéo dài giữa quá trình học và thời điểm đánh giá khiến một số sinh viên gặp khó khăn trong việc duy trì, củng cố năng lực ngoại ngữ.
Không chỉ ngoại ngữ, năng lực tin học và các kỹ năng bổ trợ cũng đòi hỏi người học phải có quá trình tự tích lũy lâu dài. Do thời lượng các học phần này trong chương trình đào tạo có giới hạn, nếu sinh viên không duy trì việc học tập thường xuyên, năng lực có thể bị gián đoạn và không đáp ứng yêu cầu khi đến thời điểm kiểm tra chuẩn đầu ra” – thầy cho hay.
Ngoài những yếu tố thuộc quá trình đào tạo, thầy Thành cho rằng môi trường xã hội hiện nay cũng tác động đáng kể đến tiến độ học tập của sinh viên. Sự phát triển của các nền tảng giải trí, mạng xã hội và nhiều yếu tố gây xao nhãng khiến một bộ phận người học mất tập trung vào mục tiêu học tập.
Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó Hiệu trưởng của một trường đại học tư thục bày tỏ nỗi trăn trở trước tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn còn thấp.
“Về phía sinh viên, nguyên nhân khá phổ biến là nợ học phần hoặc phải học lại. Trong đào tạo theo tín chỉ, nếu chưa hoàn thành một học phần tiên quyết thì có thể ảnh hưởng đến việc đăng ký các học phần tiếp theo, từ đó kéo dài tiến độ chung.
Một số sinh viên chưa hoàn thành chuẩn đầu ra về ngoại ngữ, tin học hoặc các yêu cầu khác; chậm thực tập, đồ án, khóa luận tốt nghiệp. Bên cạnh đó, một bộ phận sinh viên chưa xây dựng được kế hoạch học tập phù hợp, đăng ký học phần chưa hợp lý hoặc chưa chủ động theo dõi tiến độ tích lũy của mình.
Tuy nhiên, có một nguyên nhân cần được nhìn nhận ở góc độ tích cực. Hiện nay, một bộ phận sinh viên, đặc biệt từ năm thứ ba, đã được doanh nghiệp tiếp nhận thực tập có lương, tuyển dụng hoặc có việc làm tương đối ổn định. Khi dành nhiều thời gian cho công việc, các em có thể đăng ký ít học phần hơn hoặc chậm hoàn thành một số học phần, đồ án, khóa luận nên thời gian tốt nghiệp kéo dài.
Với những trường hợp này, không nên mặc định chậm tốt nghiệp đồng nghĩa với năng lực học tập yếu. Ở một khía cạnh khác, việc sinh viên chưa tốt nghiệp nhưng đã được doanh nghiệp tuyển dụng cũng cho thấy kiến thức, kỹ năng và năng lực nghề nghiệp của các em đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động” – thầy cho hay.
Theo Phó Hiệu trưởng, khó khăn lớn nhất là phát hiện đủ sớm sinh viên có nguy cơ chậm tiến độ và xác định đúng nguyên nhân để có biện pháp hỗ trợ phù hợp. Trong đào tạo theo tín chỉ, lộ trình của mỗi sinh viên có thể khác nhau. Có em nợ một vài học phần; có em thiếu chuẩn đầu ra; có em gặp khó khăn về kinh tế; có em đi làm sớm; cũng có trường hợp chủ động giảm khối lượng học tập trong từng học kỳ. Nếu đến năm cuối nhà trường mới rà soát điều kiện tốt nghiệp thì nhiều trường hợp đã khó khắc phục.
Một rào cản khác nằm ở việc tổ chức đào tạo. Chương trình có thể còn những giai đoạn tương đối nặng; một số học phần tiên quyết trở thành “điểm nghẽn”; số sinh viên nợ một học phần không nhiều nên khó tổ chức lớp riêng; lịch học, thực tập, đồ án và việc hoàn thành chuẩn đầu ra đôi khi chưa thực sự linh hoạt. Đặc biệt, với sinh viên đã đi làm, bài toán đặt ra cho nhà trường là vừa tạo điều kiện để các em nắm bắt cơ hội nghề nghiệp, vừa bảo đảm hoàn thành đầy đủ chương trình và chuẩn đầu ra.
Tuy nhiên, việc nâng tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn không thể thực hiện bằng cách hạ chuẩn đầu ra hoặc dễ dãi hơn trong đánh giá. Tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn cần được cải thiện trên cơ sở nâng cao hiệu quả quản trị đào tạo và hỗ trợ người học, đồng thời vẫn phải bảo đảm chất lượng đào tạo.
Nhà trường cần chuyển từ “xử lý” sang “phòng ngừa”
Theo Báo cáo thường niên 3 năm gần đây, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất tăng đáng kể, từ 39,8% (năm 2024) lên 55,6% (năm 2025) và 74,7% (năm 2026).
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thành, các trường đại học có trách nhiệm bảo đảm chuẩn đầu ra theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thay vì chỉ quan tâm sinh viên có tốt nghiệp hay không, các cơ sở đào tạo cần chú trọng việc người học có tốt nghiệp đúng hạn và đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra hay không. Đây là sự thay đổi quan trọng trong quản trị đào tạo. "Hỗ trợ để sinh viên đạt chuẩn, không phải hạ chuẩn để sinh viên tốt nghiệp" là nguyên tắc cần được các trường quán triệt.
Vì vậy, Trường Đại học Mỏ - Địa chất đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có tăng thời lượng học tiếng Anh thông qua việc bổ sung các học phần, mô-đun phù hợp. Đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm nhất, nhà trường tăng cường vai trò của giáo viên chủ nhiệm và cố vấn học tập. Các lực lượng này theo dõi, tư vấn và hỗ trợ sinh viên khắc phục những hạn chế về năng lực.
Bên cạnh đó, nhà trường theo dõi tiến độ học tập của sinh viên, đặc biệt đối với các học phần liên quan đến chuẩn đầu ra, qua đó kịp thời hỗ trợ những trường hợp có nguy cơ chậm tiến độ. Quy chế đào tạo cũng được điều chỉnh theo hướng yêu cầu sinh viên chủ động hoàn thành các điều kiện tốt nghiệp.
Đặc biệt, từ khóa 69 nhập học vào năm nay, Trường Đại học Mỏ - Địa chất quy định nếu sinh viên chưa đạt chuẩn đầu ra về ngoại ngữ sẽ không được thực hiện khóa luận hoặc đồ án tốt nghiệp. Theo thầy Thành, quy định này nhằm buộc sinh viên xây dựng kế hoạch học tập từ sớm, chủ động hoàn thành các yêu cầu về chuẩn đầu ra trước khi bước vào giai đoạn cuối của chương trình.
Thầy Thành cũng nhấn mạnh: “Sinh viên cần thay đổi nhận thức về các chứng chỉ ngoại ngữ và tin học. Đây không phải là rào cản, mà là những tiêu chí nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo, giúp người học có năng lực đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động”.
Vị Phó Hiệu trưởng cho rằng, trước hết cần thay đổi cách tiếp cận từ “xử lý sinh viên chậm tiến độ” sang “phòng ngừa nguy cơ chậm tiến độ”. Các trường nên xây dựng hệ thống theo dõi và cảnh báo học tập sớm. Sau mỗi học kỳ có thể phân nhóm sinh viên: đúng tiến độ, có nguy cơ chậm tiến độ và đã chậm tiến độ. Trên cơ sở đó, khoa chuyên môn và cố vấn học tập xác định nguyên nhân cụ thể của từng trường hợp để hỗ trợ.
Thứ hai, cần rà soát chương trình và kế hoạch đào tạo để hạn chế các “điểm nghẽn”; bố trí hợp lý các học phần tiên quyết; chủ động tổ chức lớp học lại, học cải thiện hoặc học kỳ phụ khi có nhu cầu. Với sinh viên năm cuối, nên rà soát điều kiện tốt nghiệp từ sớm, tốt nhất trước khoảng một năm, thay vì đến thời điểm xét tốt nghiệp mới phát hiện còn thiếu học phần hoặc chuẩn đầu ra.
Thứ ba, cần nâng cao vai trò của cố vấn học tập và ứng dụng công nghệ trong quản lý tiến độ. Mỗi sinh viên nên có thể biết rõ mình đã tích lũy bao nhiêu tín chỉ, còn thiếu học phần và chuẩn đầu ra nào, tiến độ hiện tại có đáp ứng kế hoạch tốt nghiệp hay không. Hệ thống cũng cần cảnh báo cho sinh viên và nhà trường ngay khi xuất hiện nguy cơ chậm tiến độ.
Thứ tư, đối với sinh viên đã có việc làm từ năm thứ ba, năm thứ tư, cần có cách hỗ trợ phù hợp hơn. Trong khuôn khổ quy chế đào tạo, nhà trường có thể tổ chức kế hoạch học tập linh hoạt, tạo điều kiện học bù, học lại, tăng cường tự học có hướng dẫn hoặc học trực tuyến đối với những nội dung được phép; đồng thời nghiên cứu gắn thực tập, đồ án, khóa luận với công việc thực tế tại doanh nghiệp khi đáp ứng yêu cầu chuyên môn.
“Mục tiêu ở đây không phải hạ chuẩn để sinh viên tốt nghiệp nhanh hơn, mà là giúp các em không phải lựa chọn giữa cơ hội việc làm và việc hoàn thành chương trình đại học. Nếu thực hiện đồng bộ, kết quả bước đầu có thể chưa thể hiện ngay bằng việc tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn tăng mạnh, mà trước hết sẽ là giảm số sinh viên nợ học phần, giảm số trường hợp đến năm cuối mới phát hiện thiếu điều kiện tốt nghiệp, giảm thời gian tốt nghiệp trung bình và giảm những trường hợp phải kéo dài thời gian học chỉ vì một vài học phần hoặc chuẩn đầu ra. Sau một vài khóa đào tạo, những thay đổi này mới phản ánh rõ hơn vào tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn.
Theo tôi, điều quan trọng cuối cùng là không nên nhìn tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn như một chỉ tiêu đơn lẻ. Cần đặt nó cùng với tỷ lệ sinh viên có việc làm, chất lượng việc làm sau tốt nghiệp và mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
Một sinh viên tốt nghiệp đúng hạn nhưng chưa đáp ứng được thị trường lao động chưa hẳn đã là kết quả tốt hơn một sinh viên chậm tốt nghiệp vài tháng nhưng đã được doanh nghiệp tuyển dụng từ khi còn đang học. Do đó, mục tiêu cuối cùng vẫn phải là giúp sinh viên hoàn thành chương trình trong thời gian hợp lý, bảo đảm chuẩn đầu ra và có khả năng tham gia thị trường lao động tốt, chứ không đơn thuần chạy theo một tỷ lệ đẹp” – thầy bày tỏ.
Tài liệu tham khảo:
[1]https://giaoduc.net.vn/hieu-truong-truong-dh-ngan-hang-tphcm-noi-hoc-phi-qua-han-nham-ran-de-sv-dung-thu-sau-phan-anh-post262338.gd