Ưu đãi thuế, đất đai, tín dụng và công nghệ giúp trường nghề mở ra nhiều dư địa phát triển

16/09/2026 06:20
Hồng Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Cơ sở giáo dục nghề nghiệp kỳ vọng những cơ chế ưu đãi sẽ tạo thêm dư địa để nhà trường chủ động huy động nguồn lực, hiện đại hóa xưởng thực hành, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường hợp tác doanh nghiệp.

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian có nêu nhiều cơ chế ưu đãi cho các cơ sở giáo dục liên quan đến thuế và đất đai, tín dụng, công nghệ.

Lãnh đạo một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đánh giá cao những cơ chế ưu đãi toàn diện được quy định trong Nghị định, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng tiếp cận trên thực tế để đảm bảo phát huy hiệu quả của chính sách.

Cần đảm bảo khả năng tiếp cận chính sách trên thực tế

Đánh giá về cơ chế ưu đãi liên quan đến thuế và đất đai, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Huy - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh cho biết, Nghị định 334/2026/NĐ-CP quy định cơ sở giáo dục được hưởng chính sách ưu đãi về thuế và đất đai theo quy định của pháp luật về thuế và đất đai là chính sách rất có ý nghĩa và đặc biệt thiết thực đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Đất đai và cơ sở vật chất là những nguồn lực nền tảng để cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển lâu dài. Đơn vị không chỉ cần phòng học lý thuyết mà còn cần xưởng thực hành, phòng thí nghiệm, trung tâm đào tạo công nghệ, khu thực nghiệm, không gian đổi mới sáng tạo và các mô hình đào tạo gắn với sản xuất thực tế. Vì vậy, nếu chính sách ưu đãi về đất đai và thuế được triển khai thực chất sẽ giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu, từ đó dành thêm nguồn lực cho thiết bị, công nghệ, đội ngũ và nâng cao chất lượng đào tạo.

Ở góc độ rộng hơn, chính sách này còn có ý nghĩa chuyển nguồn lực từ “chi phí về đất đai, thuế” thành “nguồn lực đầu tư trực tiếp cho chất lượng giáo dục”. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mạnh dạn xây dựng những không gian đào tạo mở, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm thực hành, thực nghiệm dùng chung và các mô hình hợp tác nhà trường - doanh nghiệp.

Điều quan trọng là chính sách cần tạo ra cơ chế để tài sản và đất đai của cơ sở giáo dục nghề nghiệp được khai thác hiệu quả hơn cho mục tiêu đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhưng đồng thời vẫn phải bảo đảm quản lý chặt chẽ, công khai, minh bạch và đúng mục đích.

Đối với ưu đãi về tín dụng, Nghị định nêu dự án đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại, xưởng thực hành, cơ sở đổi mới sáng tạo phục vụ nâng cao chất lượng giáo dục được ưu tiên xem xét đưa vào danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay và được áp dụng lãi suất vay ưu đãi từ Quỹ Đầu tư phát triển địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác khi đáp ứng điều kiện cho vay của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương.

Từ thực tiễn của Trường Cao đẳng Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh, thầy Huy chia sẻ: "Đặc thù của đào tạo nghề là chi phí đầu tư thiết bị lớn, trong khi chu kỳ đổi mới công nghệ ngày càng ngắn. Một dây chuyền tự động hóa, hệ thống robot công nghiệp, thiết bị điều khiển thông minh hay hệ thống chẩn đoán ô tô hiện đại có giá trị đầu tư lớn nhưng lại cần thường xuyên được cập nhật để theo kịp công nghệ doanh nghiệp đang sử dụng.

Nếu chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách Nhà nước hoặc nguồn thu sự nghiệp của cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ rất khó tạo ra những bước đột phá về cơ sở vật chất. Do đó, tín dụng ưu đãi có thể trở thành một kênh huy động nguồn lực quan trọng, giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động hơn trong đầu tư.

Tuy nhiên, vấn đề chúng tôi quan tâm nhất là khả năng tiếp cận chính sách trên thực tế. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập có những đặc thù khác với doanh nghiệp. Khi vay vốn để đầu tư, sẽ phát sinh nhiều vấn đề như tài sản bảo đảm, phương án trả nợ, quyền sử dụng tài sản công, thẩm quyền quyết định đầu tư, khả năng sử dụng nguồn thu để hoàn trả vốn vay và sự đồng bộ giữa pháp luật về giáo dục nghề nghiệp, tài chính, ngân sách, đầu tư công và quản lý tài sản công. Khi những vấn đề này chưa được hướng dẫn rõ thì dù lãi suất ưu đãi hấp dẫn, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn có thể rơi vào tình trạng “có chính sách nhưng khó tiếp cận chính sách”.

Từ đó, thầy Huy chỉ ra, đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, cần nghiên cứu cơ chế tín dụng có tính đặc thù. Chẳng hạn, có thể xem xét phương án vay theo dự án đầu tư khả thi, theo dòng tiền và nguồn thu hợp pháp của đơn vị; đồng thời có cơ chế bảo lãnh, hỗ trợ lãi suất hoặc quỹ phát triển giáo dục phù hợp, thay vì áp dụng hoàn toàn các điều kiện vay vốn như đối với doanh nghiệp thông thường.

Quan trọng hơn, đầu tư thiết bị đào tạo phải gắn với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp. Nếu một phòng thí nghiệm hay xưởng thực hành được cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp cùng xây dựng, cùng khai thác và cùng đào tạo nhân lực thì hiệu quả đầu tư sẽ cao hơn.

Cùng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Duy Phấn - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định cho rằng, chính sách ưu đãi về tín dụng là tín hiệu tích cực đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thực tế, để các trường có thể đầu tư từ nguồn vốn vay, cần có cơ chế ưu đãi đủ lớn và thời gian vay phù hợp, bởi đầu tư trang thiết bị phục vụ đào tạo nghề thường đòi hỏi nguồn kinh phí cao.

Đặc biệt, bên cạnh việc mở thêm nguồn vốn, cần đặc biệt chú ý đến khả năng triển khai chính sách trong thực tế. Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định từng nhận được nguồn vốn vay ODA của Ngân hàng Phát triển châu Á trong nhiều năm nhưng đến nay chưa có dự án nào được thực hiện. Có trường hợp, hồ sơ, danh mục dự án đã hoàn thiện nhưng quá trình triển khai còn gặp vướng mắc ở khâu đấu thầu, khiến đơn vị phải hoàn trả nguồn vốn. Do vậy, việc thiết kế chính sách tín dụng ưu đãi cần đi kèm với cơ chế triển khai phù hợp, bảo đảm các trường có thể thực sự tiếp cận và sử dụng được nguồn vốn.

Tiến sĩ Nguyễn Duy Phấn - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định. Website nhà trường.

Tiến sĩ Nguyễn Duy Phấn - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định. Website nhà trường.

Ưu đãi về công nghệ có thể mở ra không gian hợp tác giữa nhà trường - doanh nghiệp

Một trong những điểm đáng chú ý là ưu đãi về công nghệ. Theo đó, Nghị định 334/2026/NĐ-CP quy định các khoản đầu tư phát triển hạ tầng số, nền tảng số đồng bộ theo hình thức công tư phục vụ mục đích chuyển đổi số giáo dục được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, công nghiệp công nghệ số, thuế và các quy định pháp luật có liên quan.

Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Huy đánh giá đây là một trong những nội dung rất quan trọng, bởi chuyển đổi số hiện nay không còn là một nhiệm vụ mang tính lựa chọn mà đã trở thành một điều kiện để nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của mỗi cơ sở giáo dục. Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số phải được hiểu rộng hơn việc số hóa hồ sơ hay triển khai phần mềm quản lý. Mục tiêu cuối cùng phải là chuyển đổi phương thức quản trị, phương thức dạy học và phương thức kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp và thị trường lao động.

Khi có chính sách ưu đãi cho đầu tư hạ tầng số và nền tảng số, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ có điều kiện xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu đồng bộ; học liệu số; phòng học thông minh; mô phỏng, thực tế ảo; ứng dụng trí tuệ nhân tạo; hệ thống quản lý học tập; cơ sở dữ liệu người học và các nền tảng kết nối doanh nghiệp - nhà trường - người học.

Đặc biệt, chính sách này có thể mở ra một không gian hợp tác mới giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp công nghệ. Doanh nghiệp có công nghệ, nền tảng và kinh nghiệm triển khai; nhà trường có đội ngũ, người học, môi trường đào tạo và nhu cầu ứng dụng. Nếu có cơ chế phù hợp để hai bên cùng đầu tư, cùng khai thác và cùng chia sẻ lợi ích thì tốc độ chuyển đổi số của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ nhanh hơn rất nhiều.

Với Trường Cao đẳng Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh, nhà trường xác định chuyển đổi số phải đồng thời phục vụ ba mục tiêu: quản trị thông minh hơn, đào tạo chất lượng hơn, kết nối doanh nghiệp hiệu quả hơn. Chính sách này được kỳ vọng sẽ góp phần hình thành những mô hình hợp tác mới, trong đó doanh nghiệp công nghệ không chỉ là nhà cung cấp phần mềm, thiết bị mà trở thành đối tác đồng hành trong quá trình chuyển đổi số và đổi mới mô hình đào tạo.

Bên cạnh đó vị Hiệu trưởng chỉ ra: "Từ thực tiễn quản lý một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tôi kỳ vọng quá trình hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định tập trung vào bốn vấn đề. Đầu tiên, thủ tục phải rõ ràng và dễ thực hiện. Cần xác định cụ thể đối tượng, điều kiện, trình tự, hồ sơ, thẩm quyền và thời gian giải quyết đối với từng chính sách ưu đãi. Hạn chế tối đa tình trạng một dự án phải xin ý kiến nhiều cơ quan hoặc mỗi địa phương hiểu và áp dụng chính sách theo một cách khác nhau.

Cùng với đó, phải xử lý được những điểm giao thoa giữa các quy định pháp luật. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định về ngân sách, tài sản công, đầu tư công, đất đai, đấu thầu và cơ chế tự chủ. Vì vậy, hướng dẫn thực hiện cần bảo đảm tính đồng bộ để người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ cơ sở pháp lý khi quyết định đầu tư.

Nên phân loại chính sách theo mức độ tự chủ và đặc thù của từng nhóm cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Không nên áp dụng một cơ chế hoàn toàn giống nhau cho mọi cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Những cơ sở có năng lực tự chủ, có phương án đầu tư khả thi và có khả năng tạo nguồn thu hợp pháp cần được trao quyền chủ động cao hơn, đi đôi với trách nhiệm giải trình.

Đặc biệt, chính sách cần khuyến khích mô hình hợp tác Nhà nước - nhà trường – doanh nghiệp. Với giáo dục nghề nghiệp, đây có thể là chìa khóa để huy động nguồn lực xã hội. Nhà nước tạo cơ chế và chính sách; nhà trường tổ chức đào tạo; doanh nghiệp tham gia đầu tư thiết bị, công nghệ, chương trình và tiếp nhận người học. Khi lợi ích và trách nhiệm của ba bên được xác định rõ, nguồn lực đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp sẽ được mở rộng đáng kể.

Với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tôi kỳ vọng những cơ chế mới sẽ tạo thêm dư địa để nhà trường chủ động huy động nguồn lực, hiện đại hóa xưởng thực hành, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường hợp tác doanh nghiệp và từng bước hình thành môi trường đào tạo ngày càng gần hơn với môi trường sản xuất thực tế. Cuối cùng, đích đến của mọi cơ chế tự chủ hay ưu đãi đầu tư vẫn phải là nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao năng lực nghề nghiệp và cơ hội việc làm của người học".

Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Huy - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh. Ảnh: NVCC.

Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Huy - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh. Ảnh: NVCC.

Đánh giá về chính sách ưu đãi trong lĩnh vực công nghệ, Tiến sĩ Nguyễn Duy Phấn cho rằng đây là một tín hiệu tích cực, tạo thêm cơ sở để các nhà trường chủ động đầu tư, phát triển và phát huy nguồn lực cho chuyển đổi số.

Chuyển đổi số hiện nay là một nhiệm vụ rất quan trọng nhưng quá trình triển khai tại các cơ sở giáo dục cũng không dễ dàng, do lượng dữ liệu lớn và liên quan đến nhiều khâu trong hoạt động của nhà trường. Đơn vị phải tổ chức các bộ phận, tổ công tác để triển khai chuyển đổi số, đồng thời từng bước đầu tư nguồn lực phục vụ quá trình này.

Nếu chính sách ưu đãi về công nghệ được triển khai cụ thể, khả thi, các cơ sở giáo dục sẽ có thêm cơ sở để xây dựng kế hoạch chuyển đổi số một cách chủ động, phù hợp với điều kiện và nhu cầu thực tế của từng trường.

Ngoài ra, Tiến sĩ Nguyễn Duy Phấn cũng phân tích, để các cơ chế ưu đãi được nêu trong Nghị định được triển khai nhanh chóng và phát huy hiệu quả, các cơ sở giáo dục rất cần hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện.

“Phía cơ sở mong muốn có hướng dẫn rõ hơn về cách triển khai để chính sách nhanh chóng đi vào thực tế và mang lại hiệu quả cho các nhà trường. Đồng thời, rất cần sự quan tâm, đồng hành của đơn vị chủ quản và cơ quan quản lý cấp trên, cùng với những hướng dẫn thống nhất để các cơ sở hiểu đúng, triển khai đúng và bảo đảm đồng bộ.

Bên cạnh cơ chế và hướng dẫn thực hiện, hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc vào nguồn lực và điều kiện thực tế của từng địa phương, từng cơ sở giáo dục. Vì vậy, khi triển khai cần có sự tính toán phù hợp với đặc thù của từng trường, từng địa bàn và điều kiện quản lý, qua đó bảo đảm chính sách được áp dụng đúng hướng nhưng vẫn phù hợp với thực tiễn" - thầy Phấn bày tỏ.

Hồng Linh