Quy hoạch cơ sở giáo dục đại học công và tư: Hai cấu phần của cùng một năng lực quốc gia

18/09/2026 06:24
PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng – Hiệu trưởng Trường Đại học CMC
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Một đại học đào tạo ứng dụng tốt trong hệ sinh thái viện – trường – doanh nghiệp không phải là phiên bản kém hơn của một đại học nghiên cứu. Hai loại hình tạo giá trị khác nhau, sử dụng nguồn lực khác nhau và cần bộ chỉ số đánh giá khác nhau.

Quy hoạch giáo dục đại học thường được nhìn qua số trường công lập, cơ quan chủ quản hay phương án sắp xếp pháp nhân. Nhưng đến năm 2030, quy hoạch quốc gia định hướng khu vực công lập chiếm khoảng 70% và khu vực tư thục khoảng 30% tổng quy mô đào tạo. Điều đó đặt ra một câu hỏi rộng hơn: thay vì quy hoạch từng khu vực riêng rẽ, Việt Nam sẽ thiết kế năng lực giáo dục đại học quốc gia như thế nào?

Một hệ thống, nhiều mô hình sở hữu

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định giáo dục công lập là trụ cột và giáo dục tư thục là thành phần quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Quyết định số 452/QĐ-TTg về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm cũng định hướng đến năm 2030 khu vực công lập chiếm khoảng 70% tổng quy mô đào tạo, trong khi khu vực tư thục và tư thục không vì lợi nhuận chiếm khoảng 30%.

img-3148.jpg
Ảnh minh họa: PTIT

Hai định hướng này cho thấy bài toán quy hoạch không thể chỉ dừng ở việc xác định số lượng trường công. Khi một khu vực cung cấp gần một phần ba quy mô đào tạo theo mục tiêu đến 2030, mọi thay đổi trong mạng lưới công lập đều có quan hệ trực tiếp với năng lực tuyển sinh, đầu tư và đào tạo của khối tư thục.

Nói cách khác, công lập và tư thục không phải hai “thị trường giáo dục” tách rời. Người học, giảng viên và doanh nghiệp tuyển dụng di chuyển giữa cả hai khu vực. Nhu cầu nhân lực của nền kinh tế cũng không phân biệt người tốt nghiệp đến từ mô hình sở hữu nào; điều thị trường quan tâm cuối cùng là năng lực và chất lượng.

Sở hữu khác với sứ mạng

Trong thảo luận về đại học, đôi khi có xu hướng đồng nhất sở hữu công với sứ mạng công, hoặc coi trường tư chỉ làm nhiệm vụ thị trường. Thực tế phức tạp hơn. Một cơ sở ngoài công lập vẫn có thể đào tạo nhân lực cho lĩnh vực ưu tiên, tham gia nghiên cứu, cung cấp học bổng và thực hiện nhiệm vụ cộng đồng. Ngược lại, một trường công lập cũng cần chứng minh hiệu quả sử dụng nguồn lực và chất lượng đầu ra.

Vì vậy, khi thiết kế hệ thống, một câu hỏi hữu ích là: năng lực nào Nhà nước cần trực tiếp duy trì và đầu tư dài hạn; năng lực nào có thể được nhiều loại hình cơ sở cùng cung cấp; và nhiệm vụ nào có thể được đặt hàng theo chất lượng và kết quả.

Những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, hạ tầng khoa học rất lớn hoặc năng lực chiến lược dài hạn thường đòi hỏi đầu tư bền bỉ và khả năng chấp nhận thời gian hoàn vốn dài. Trong khi đó, một số lĩnh vực đào tạo ứng dụng, công nghệ số, kinh doanh, dịch vụ hoặc ngành thay đổi nhanh có thể hưởng lợi từ khả năng phản ứng nhanh của các trường gắn chặt với doanh nghiệp. Đây không phải ranh giới cố định; nó là một phổ sứ mạng cần được xác định bằng dữ liệu và năng lực thực tế.

Công - tư không nhất thiết phải cạnh tranh theo cùng một cách

Nếu mọi trường đều cố trở thành đại học đa ngành, nghiên cứu mạnh, quốc tế hóa cao và mở cùng một danh mục ngành, hệ thống sẽ dễ rơi vào cạnh tranh đồng dạng. Phân tầng theo sứ mạng có thể làm giảm tình trạng đó. Có trường tập trung nghiên cứu; có trường mạnh về công nghệ; có trường phục vụ vùng; có trường định hướng ứng dụng; có cơ sở chuyên ngành sâu.

Sự khác nhau về sứ mạng không nên được hiểu như một bảng xếp hạng cao - thấp. Một đại học đào tạo ứng dụng tốt trong hệ sinh thái viện – trường – doanh nghiệp không phải là phiên bản kém hơn của một đại học nghiên cứu. Hai loại hình tạo giá trị khác nhau, sử dụng nguồn lực khác nhau và cần bộ chỉ số đánh giá khác nhau.

Đây cũng là điểm giúp quan hệ công - tư trở nên bổ trợ thay vì chỉ cạnh tranh tuyển sinh. Nếu hệ thống xác định rõ nhu cầu nhân lực và vai trò từng nhóm cơ sở, khu vực tư có thể mở rộng ở nơi có năng lực và nhu cầu thực, còn đầu tư công có thể tập trung hơn vào các năng lực chiến lược hoặc các lĩnh vực thị trường khó tự cung cấp đủ.

Từ “cấp tiền cho trường” đến “mua kết quả” - một cuộc thảo luận cần dữ liệu

Một trong những câu hỏi khó nhất của quy hoạch là tài chính. Có ba cách tiếp cận thường được thảo luận: cấp nguồn lực theo cơ sở, hỗ trợ theo người học và phân bổ theo kết quả. Mỗi cách có ưu - nhược điểm riêng.

Cấp theo cơ sở tạo ổn định cho các nhiệm vụ dài hạn nhưng có thể làm giảm áp lực cải thiện hiệu quả nếu cơ chế trách nhiệm giải trình yếu. Hỗ trợ theo người học làm nguồn lực “đi theo” lựa chọn của sinh viên, nhưng cần kiểm soát chặt chất lượng và tránh khuyến khích chạy theo quy mô. Tài trợ theo kết quả có thể gắn ngân sách với việc làm, nghiên cứu hoặc phục vụ sứ mạng, nhưng nếu thiết kế KPI đơn giản sẽ tạo hành vi chạy theo chỉ số.

Nghị quyết 71 đã nêu định hướng phân bổ ngân sách nhà nước cho cơ sở giáo dục đại học dựa trên sứ mạng, chất lượng và hiệu quả, đồng thời ưu tiên đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với các ngành, lĩnh vực trọng điểm theo kết quả đầu ra. Đây là cơ sở để thảo luận rộng hơn về việc tách dần “quyền sở hữu” khỏi “cơ chế giao nhiệm vụ” trong những lĩnh vực phù hợp.

Một sân chơi chất lượng cần cả cơ chế vào và cơ chế ra

Khi khu vực tư thục lớn lên, quản lý chất lượng không thể chỉ dựa vào giấy phép thành lập. Hệ thống cần dữ liệu minh bạch về giảng viên, tài chính, tỷ lệ nhập học, tỷ lệ thôi học, tốt nghiệp, việc làm, nghiên cứu và tình trạng kiểm định. Chuẩn cơ sở giáo dục đại học hiện hành đã đưa nhiều chỉ số như vậy vào hệ thống đánh giá, từ tuyển sinh và tốt nghiệp đến việc làm và nghiên cứu.

Vấn đề khó hơn là cơ chế xử lý một cơ sở hoạt động không bền vững. Với trường công, Nhà nước có thể tổ chức lại, chuyển cơ quan quản lý hoặc sáp nhập. Với trường tư, công cụ cần thiên về chuẩn chất lượng, minh bạch tài chính, trách nhiệm của nhà đầu tư và cơ chế bảo vệ người học nếu cơ sở phải thu hẹp hoặc rời thị trường.

Một thị trường giáo dục lành mạnh không chỉ cần quy trình mở trường. Nó còn cần câu trả lời cho tình huống trường yếu đi, mất khả năng tuyển sinh hoặc gặp khó khăn tài chính: sinh viên được chuyển đi đâu, tín chỉ và học phí được xử lý thế nào, dữ liệu học tập ai lưu giữ, nghĩa vụ với giảng viên và đối tác ra sao.

Quy hoạch đến 2035: Đếm trường hay đếm năng lực?

Quy hoạch mạng lưới có lý do chính đáng để quan tâm đến số lượng cơ sở, phân bố vùng và cơ quan quản lý. Nhưng nếu dừng ở số lượng, hệ thống có thể bỏ qua điều quan trọng hơn: đất nước đang thiếu năng lực đào tạo và nghiên cứu nào.

Ví dụ, một vùng có thể có nhiều trường nhưng vẫn thiếu năng lực nghiên cứu công nghệ cao, thiếu đào tạo sau đại học hoặc thiếu nhân lực sức khỏe. Ngược lại, một địa bàn có ít trường nhưng các cơ sở hiện hữu có quy mô lớn, chất lượng tốt và liên kết vùng mạnh thì không nhất thiết phải tăng số pháp nhân.

Vì thế, câu hỏi “cần bao nhiêu trường công, bao nhiêu trường tư” chỉ là một phần. Câu hỏi nền tảng hơn là: đến 2035 Việt Nam cần bao nhiêu năng lực nghiên cứu, bao nhiêu chỗ học chất lượng, những ngành nào cần bảo đảm năng lực chiến lược, vùng nào thiếu cung, và mô hình sở hữu nào có thể cung cấp từng năng lực với chất lượng và hiệu quả phù hợp.

Khi chuyển từ quy hoạch theo sở hữu sang quy hoạch theo sứ mạng và năng lực, công lập và tư thục không còn là hai phía của một cuộc tranh luận. Chúng trở thành hai cấu phần khác nhau của cùng một hệ thống, cùng chịu chuẩn chất lượng và cùng được đánh giá bằng kết quả mà người học, doanh nghiệp và xã hội nhận được.

PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng – Hiệu trưởng Trường Đại học CMC