Từ năm 2015 đến nay, việc chuyển xếp lương, bổ nhiệm và thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên đã trải qua nhiều lần điều chỉnh, nhưng trên thực tế vẫn còn không ít bất cập, vướng mắc. Từ chỗ giáo viên được xếp lương theo ngạch, bậc, đến việc chuyển sang hệ thống chức danh nghề nghiệp theo các hạng, quá trình thực hiện phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến điều kiện, tiêu chuẩn, thời gian giữ hạng, văn bằng, chứng chỉ cũng như cách thức xác định mức lương. Không ít giáo viên có thời gian công tác lâu năm, nhiều kinh nghiệm nhưng khi chuyển sang hạng chức danh nghề nghiệp lại gặp khó khăn, thậm chí có trường hợp quyền lợi về lương và vị trí nghề nghiệp chưa tương xứng với quá trình cống hiến.
Gần đây, dự thảo về chuyển xếp lương giáo viên tiếp tục nhận được sự quan tâm lớn từ đội ngũ nhà giáo, bởi đây được kỳ vọng là bước tháo gỡ những vướng mắc kéo dài trong nhiều năm. Tuy nhiên, nếu cách chuyển xếp chưa tính đầy đủ đến quá trình công tác, mức lương hiện hưởng, thâm niên nghề nghiệp và sự khác biệt giữa các nhóm giáo viên thì vẫn có nguy cơ tạo ra những khoảng cách, bất hợp lý về quyền lợi. Điều giáo viên mong muốn không chỉ là một cơ chế mới, mà là một cơ chế thực sự công bằng, minh bạch và hợp lý, bảo đảm người có quá trình cống hiến lâu năm không bị thiệt thòi, đồng thời giải quyết được những vướng mắc tồn tại qua nhiều giai đoạn. Vì vậy, dự thảo chuyển xếp lương giáo viên cần tiếp tục được rà soát, đánh giá kỹ lưỡng và hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn để khi ban hành có thể tạo sự đồng thuận trong đội ngũ nhà giáo.
Từ năm 2015, việc bổ nhiệm, chuyển xếp lương, chia hạng theo chùm Thông tư 20-23/2015 ra sao?
Trước 2015, giáo viên hưởng lương theo ngạch bậc theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP quy định tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Giáo viên có trình độ đại học được hưởng lương có hệ số 2,34 đến 4,98; giáo viên có trình độ cao đẳng hưởng lương có hệ số 2,1 đến 4,89; giáo viên có trình độ trung cấp hưởng lương có hệ số 1,86 đến 4,06.
Nếu giáo viên khi tuyển dụng có trình độ trung cấp, cao đẳng nâng cao chuẩn trình độ đào tạo lên đại học hoặc cao hơn thì được chuyển xếp lương theo đúng trình độ đào tạo.
Việc xếp lương theo quy định này cũng có một số hạn chế như chủ yếu trả lương theo thâm niên công tác, giáo viên công tác lâu năm sẽ nhận lương cao, không kể thành tích, hiệu quả công việc,…
Chùm Thông tư 20-23/2015/TTLT-BNV-BGDĐT quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông có hiệu lực 01/11/2015.
Theo đó, chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non trong các trường mầm non công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
Giáo viên mầm non hạng II, Mã số: V.07.02.04, hệ số lương 2,34-4,98;
Giáo viên mầm non hạng III, mã số: V.07.02.05, hệ số lương 2,1-4,89;
Giáo viên mầm non hạng IV, Mã số: V.07.02.06, hệ số lương 1,86 - 4,06.
Đối với giáo viên tiểu học được thực hiện theo Thông tư 21/2015/TTLT-BNV-BGDĐT.
Tại Điều 2 quy định Mã số và phân hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học trong các trường tiểu học công lập gồm:
Giáo viên tiểu học hạng II - Mã số: V.07.03.07, hệ số lương 2,34 – 4,98;
Giáo viên tiểu học hạng III - Mã số: V.07.03.08, hệ số lương 2,1-4,89;
Giáo viên tiểu học hạng IV - Mã số: V.07.03.09, hệ số lương 1,86-4,06.
Đối với giáo viên trung học cơ sở được thực hiện theo Thông tư 22/2015/TTLT-BNV-BGDĐT
Tại Điều 2 quy định mã số và phân hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở trong các trường trung học cơ sở công lập bao gồm:
Giáo viên trung học cơ sở hạng I - Mã số: V.07.04.10, hệ số lương 4,0-6,38;
Giáo viên trung học cơ sở hạng II - Mã số: V.07.04.11, hệ số lương 2,34-4,98;
Giáo viên trung học cơ sở hạng III - Mã số: V.07.04.12, hệ số lương 2,1-4,89.
Đối với giáo viên trung học phổ thông được thực hiện theo quy định tại Thông tư 23/2015/TTLT-BNV-BGDĐT.
Tại Điều 2 quy định Mã số và phân hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông trong các trường trung học phổ thông công lập bao gồm:
Giáo viên trung học phổ thông hạng I - Mã số: V.07.05.13, hệ số lương 4,4-6,78;
Giáo viên trung học phổ thông hạng II - Mã số: V.07.05.14, hệ số lương 4,0-6,38;
Giáo viên trung học phổ thông hạng III - Mã số: V.07.05.15, hệ số lương 2,34- 4,98.
Việc bổ nhiệm từ ngạch sang hạng thời điểm này giữ nguyên hệ số lương.
Việc bổ nhiệm, xếp lương, chia hạng giáo viên theo chùm Thông tư 20-23/2015 nảy sinh các vướng mắc sau: Giáo viên trúng tuyển bậc mầm non, tiểu học dù có bằng đại học hay thạc sĩ vẫn phải hưởng lương bậc 1 hạng IV của bậc tiểu học, mầm non có hệ số lương 1,86-4,06.
Giáo viên trúng tuyển bậc trung học cơ sở dù có bằng đại học hay thạc sĩ vẫn phải hưởng lương bậc 1 hạng III của bậc trung học cơ sở có hệ số lương 2,1-4,89; việc thăng hạng thiếu hướng dẫn cụ thể nên nhiều trường hợp không được thăng hạng, trải qua hơn 10 năm vẫn hưởng lương trung cấp dù có bằng đại học,….
Chuyển xếp lương từ chùm Thông tư 20-23/2015 sang Thông tư 01-04/2021 tiếp tục có nhiều vướng mắc
Năm 2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 01, 02, 03, 04/2021/TT-BGDĐT được ban hành quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, bổ nhiệm và xếp lương viên chức giảng dạy trong cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập, giáo viên từ mầm non đến trung học phổ thông vẫn được xếp theo các hạng từ hạng I, II, III, khi chuyển xếp lương từ Thông tư 20-23/2015 sang Thông tư 01-04/2021 cũng lại bộc lộ nhiều bất cập.
Việc chuyển xếp lương từ chùm Thông tư 20-23/2015 sang chùm Thông tư 01-04/2021 được hướng dẫn như sau:
Đối với giáo viên mầm non: Giáo viên mầm non hạng IV cũ (hệ số lương 1,86 – 4,06) được bổ nhiệm hạng III mới (hệ số lương 2,1 đến 4,89); hạng III cũ (hệ số lương 2,1 đến 4,89) được bổ nhiệm vào hạng III mới (hệ số lương 2,1 đến 4,89); hạng II cũ (hệ số lương 2,34 đến 4,98) được bổ nhiệm vào hạng II mới (hệ số lương 2,34 đến 4,98).
Đối với giáo viên mầm non phát sinh một số điểm bất cập như: giáo viên mầm non có trình độ đại học nhưng đang hưởng lương hạng IV, III cũ chỉ được chuyển qua hạng III mới; giáo viên có bằng đại học trước đây đã được hưởng lương đại học thì giữ nguyên hệ số lương.
Ngoài ra, đối với bậc mầm non còn có quy định một trường hợp bất hợp lý là chuyển xuống hạng, giảm hệ số lương như quy định: trường hợp giáo viên mầm non hạng II (mã số V.07.02.04) có hệ số lương từ 2,34 – 4,98 do chưa đạt các tiêu chuẩn của hạng II (mã số V.07.02.25) có hệ số lương 2,34 – 4,98 nên bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng III (mã số V.07.02.26) có hệ số lương 2,1 đến 4,89, mà việc chuyển giảm hệ số lương hiện nay chưa có bất cứ quy định nào.
Đối với giáo viên tiểu học: Giáo viên tiểu học hạng IV cũ (hệ số lương 1,86 – 4,06) được bổ nhiệm hạng III mới (hệ số lương 2,34 – 4,98); hạng III cũ (hệ số lương 2,1 – 4,89) được bổ nhiệm vào hạng III mới (hệ số lương 2,34 – 4,98); hạng II cũ (hệ số lương 2,34 – 4,98) được bổ nhiệm hạng II mới (có hệ số lương 4,0 – 6,38).
Đối với bậc tiểu học cũng thiệt thòi cho các trường hợp có bằng đại học từ nhiều năm nhưng hưởng lương hạng III, IV cũ chỉ được chuyển qua hạng III mới có hệ số lương 2,34 – 4,98, trong khi đó những người hưởng lương đại học thì được chuyển qua hạng II mới có hệ số lương khá cao 4,0-6,38 rất bất hợp lý.
Đối với giáo viên trung học cơ sở: Giáo viên trung học cơ sở hạng III cũ (hệ số lương 2,1 đến 4,98) được bổ nhiệm vào hạng III mới (hệ số lương 2,34 – 4,98); hạng II cũ (hệ số lương 2,34 – 4,98) được bổ nhiệm vào hạng II mới (hệ số lương 4,0 - 6,38); hạng I cũ (hệ số lương 4,0 - 6,38) được bổ nhiệm vào hạng I (hệ số lương 4,4 – 6,78).
Giống bậc tiểu học, giáo viên trung học cơ sở có bằng đại học nhiều năm nhưng chỉ xếp lương giáo viên hạng III cũ chỉ được chuyển qua hạng III mới, trong khi đó những người hưởng lương đại học thì được chuyển qua hạng II mới có hệ số lương khá cao 4,0-6,38 rất bất hợp lý.
Đối với giáo viên trung học phổ thông: Xếp lương có hệ số lương, hạng tương đương với Thông tư 23/2015/TT-BGDĐT, việc chuyển xếp lương mới không có lợi gì cho giáo viên trung học phổ thông.
Bên cạnh đó, chùm Thông tư 01-04/2021 bổ nhiệm, xếp lương giáo viên còn xuất hiện thêm nhiều bất cập khác như: Về hạng thì có trường hợp chuyển từ hạng IV sang hạng III; có trường hợp từ hạng III sang hạng III; có trường hợp từ hạng II sang hạng II, III; có trường hợp hạng I sang hạng I; II,…
Về hệ số lương khi chuyển thì cũng rất vô lý khi có trường hợp chuyển hệ số lương bằng nhau, có trường hợp chuyển gần bằng, lại có trường hợp chuyển tăng rất cao (từ hạng II cũ sang hạng II mới ở bậc tiểu học, trung học cơ sở từ 2,67- 3,99 đều cùng qua 4,0); có cả trường hợp chuyển xuống hệ số lương (các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa có quy định),..
Đến Thông tư 08/2023 sửa đổi, bổ sung chùm Thông tư 01-04 cũng chưa giải quyết tận gốc vấn đề
Chùm Thông tư 01-04/2021/TT-BGDĐT và Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung chùm Thông tư 01-04/2021/TT-BGDĐT quy định việc chuyển xếp hạng từ hạng cũ sang hạng mới nếu đạt thời gian giữ hạng và trình độ đào tạo như sau:
Đối với giáo viên mầm non: Giáo viên mầm non hạng IV cũ (hệ số lương 1,86 – 4,06) được bổ nhiệm hạng III mới (hệ số lương 2,1 đến 4,89); hạng III cũ (hệ số lương 2,1 đến 4,89) được bổ nhiệm vào hạng III mới (hệ số lương 2,1 đến 4,89); hạng II cũ (hệ số lương 2,34 đến 4,98) được bổ nhiệm vào hạng II mới (hệ số lương 2,34 đến 4,98).
Đối với giáo viên tiểu học: Giáo viên tiểu học hạng IV cũ (hệ số lương 1,86 – 4,06) được bổ nhiệm hạng III mới (hệ số lương 2,34 – 4,98); hạng III cũ (hệ số lương 2,1 – 4,89) được bổ nhiệm vào hạng III mới (hệ số lương 2,34 – 4,98); hạng II cũ (hệ số lương 2,34 – 4,98) được bổ nhiệm hạng II mới (có hệ số lương 4,0 – 6,38).
Đối với giáo viên trung học cơ sở: Giáo viên trung học cơ sở hạng III cũ (hệ số lương 2,1 đến 4,98) được bổ nhiệm vào hạng III mới (hệ số lương 2,34 – 4,98); hạng II cũ (hệ số lương 2,34 – 4,98) được bổ nhiệm vào hạng II mới (hệ số lương 4,0 - 6,38); hạng I cũ (hệ số lương 4,0 - 6,38) được bổ nhiệm vào hạng I (hệ số lương 4,4 – 6,78).
Đối với giáo viên trung học phổ thông: Xếp lương có hệ số lương, hạng tương đương với Thông tư 23/2015/TT-BGDĐT.
Thông tư 08/2023 có điểm mới là không còn quy định “xuống hạng”; bỏ trình độ thạc sĩ đối với giáo viên tiểu học, trung học cơ sở hạng I; quy định giáo viên đủ thời gian giữ hạng liền kề mới được chuyển hạng mới,…
Thông tư 08 sửa đổi, bổ sung chùm Thông tư 01-04/2021 về cơ bản vẫn khó có thể giải quyết được vấn đề công bằng trong trả lương, giáo viên làm tốt công việc, hiệu quả, có uy tín, có chức vụ thì ở hạng cao hơn, giáo viên khi làm việc hiệu quả thấp, chưa đủ uy tín, tín nhiệm thì phải ở hạng thấp hơn để phấn đấu được lên hạng cao hơn.
Thông tư 08 sửa đổi, bổ sung chùm Thông tư 01-04/2021 quy định giáo viên hạng II cũ chỉ cần đảm bảo thời gian giữ hạng và trình độ đào tạo thì những tiêu chuẩn được quy định trong chùm Thông tư này cũng rất khó khuyến khích được giáo viên phấn đấu.
Ví dụ, giáo viên tiểu học, trung học cơ sở đang hưởng lương hạng II cũ theo Thông tư 21,22/2015 công tác 10 năm có hệ số lương 3,33, không cần biết giữ nhiệm vụ, công tác tốt hay không, có thành tích gì sẽ được bổ nhiệm hạng II mới có hệ số lương 4,0.
Rõ ràng từ việc ban hành chùm Thông tư 20-23/2015, đến chùm Thông tư 01-04/2021 đều nảy sinh bất cập, chưa công bằng. Thực tế, ngay cả Thông tư 08 sửa đổi, bổ sung chùm Thông tư 01-04/2021 cũng rất khó giải quyết phù hợp, đảm bảo việc xếp lương giáo viên một cách công bằng, khoa học, khuyến khích mọi người cố gắng phấn đấu. Bởi, cùng một công việc giảng dạy như nhau, cùng đáp ứng chuẩn chung nhưng chia hạng có mức lương khác nhau thì bản thân nó đã nảy sinh những bất cập nhất định.
Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm chức danh và xếp lương đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục có gì mới?
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm chức danh và xếp lương đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục.
Dự thảo Thông tư nêu rõ đối tượng bổ nhiệm lại hạng và xếp lại lương là những trường hợp được bổ nhiệm ngay chức danh ở hạng cao (kể từ ngày 03/11/2015 đến ngày 20/3/2021) sau khi hết thời gian tập sự hoặc sau khi đạt trình độ đào tạo cao hơn trình độ quy định nhưng chưa trúng tuyển trong kỳ thi hoặc xét thăng hạng do cấp có thẩm quyền tổ chức (bao gồm cả trường hợp tuyển dụng trước ngày 03/11/2015 và hoàn thành thời gian tập sự theo quy định sau ngày 03/11/2015).
Dự thảo cũng quy định, các trường hợp bổ nhiệm lại hạng và xếp lại lương không bao gồm các trường hợp được bổ nhiệm hạng cao khi tuyển dụng, tiếp nhận theo chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ, chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng theo quy định của pháp luật hoặc chính sách đặc thù của địa phương, cơ sở giáo dục tại thời điểm tuyển dụng, tiếp nhận và các trường hợp bổ nhiệm hạng sau khi nâng trình độ chuẩn được đào tạo.
Dự thảo Thông tư dự kiến hai phương án thực hiện bổ nhiệm lại hạng chức danh nghề nghiệp và xếp lại lương.
Mỗi phương án nêu rõ từng đối tượng áp dụng, điều kiện và nguyên tắc cụ thể bảo đảm thực hiện đúng quy định của Luật Nhà giáo, Luật Viên chức về bổ nhiệm chức danh, tuân thủ chuẩn nghề nghiệp nhà giáo do Bộ GDĐT ban hành.
Dự thảo Thông tư quy định việc bổ nhiệm chức danh giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên từ các quy định cũ sang chức danh mới tương ứng theo quy định của pháp luật, không phải căn cứ vào cơ cấu hạng chức danh nghề nghiệp.
Trước ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, các trường hợp giáo viên do căn cứ cơ cấu hạng chức danh nghề nghiệp mà phải bổ nhiệm vào hạng thấp hơn thì được bổ nhiệm lại vào hạng đã giữ kể từ ngày Thông tư có hiệu lực thi hành. Những trường hợp này được truy lĩnh tiền lương, phụ cấp chênh lệch so với mức đã chi trả.
Do việc chuyển xếp chức danh nghề nghiệp giáo viên từ Thông tư liên tịch 20, 21, 22, 23/2015/TTLT-BGDĐT-BNV sang chức danh nghề nghiệp theo quy định tại Thông tư 01, 02, 03, 04/2021/TT-BGDĐT và Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT là chuyển xếp sang chức danh nghề nghiệp tương ứng, không phải là thăng hạng chức danh nghề nghiệp, không cần căn cứ tỷ lệ hạng chức danh nghề nghiệp.
Việc bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp theo Thông tư liên tịch 20, 21, 22, 23/2015/TTLT-BGDĐT-BNV được thực hiện dựa trên chỉ tiêu số lượng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Do đó, theo quy định hiện nay, khi chuyển xếp theo Thông tư 01, 02, 03, 04/2021/TT-BGDĐT và Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT phải bảo đảm hạng mà giáo viên đã được bổ nhiệm.
Việc quy định này tuy nhân văn, khắc phục các hạn chế của việc bổ nhiệm nhưng lại phức tạp, qua nhiều năm, nhiều trường hợp đã trải qua nhiều lần nâng lương, chuyển công tác,…nên việc bổ nhiệm, truy lĩnh cũng sẽ rất phức tạp.
Quy định về chuyển từ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông từ hạng 1-3 sang bậc nghề nghiệp 2-4 ra sao?
Ngày 26 tháng 6 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định 232/2026/NĐ-CP Quy định về vị trí việc làm viên chức có hiệu lực từ 01/7/2026.
Đối với giáo viên mầm non, phổ thông chuyển từ hạng sang bậc như sau:
Giáo viên mầm non hạng III chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 2 có hệ số lương 2,1-4,89.
Giáo viên mầm non hạng II, giáo viên phổ thông (tiểu học đến trung học phổ thông) hạng III chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 3 có hệ số lương 2,34-4,98.
Giáo viên mầm non hạng I, giáo viên phổ thông hạng II, giáo viên phổ thông hạng I được chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 4 có hệ số lương 4,4-6,38.
Theo Nghị định, chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2027, các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan đơn vị được phân cấp, ủy quyền phê duyệt vị trí việc làm phải ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Nghị định này để thay thế các quyết định về vị trí việc làm đã ban hành trước đó.
Việc chuyển từ hệ thống phân hạng chức danh nghề nghiệp sang cơ chế bậc nghề nghiệp được xem là một bước điều chỉnh hợp lý, phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại theo vị trí việc làm. Cách tiếp cận này giúp khắc phục những bất cập của cơ chế phân hạng trước đây vốn còn mang tính cứng nhắc, chưa phản ánh đầy đủ mức độ đóng góp thực tế của giáo viên. Khi chuyển sang các bậc nghề nghiệp gắn với hệ số lương cụ thể, việc xếp lương trở nên minh bạch hơn, đồng thời bảo đảm sự liên thông, công bằng giữa các nhóm giáo viên ở các cấp học khác nhau. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tạo động lực phát triển nghề nghiệp lâu dài, đúng với năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ nhà giáo.
Người viết là cán bộ quản lý, giáo viên cho rằng đến thời điểm này không nên quy định thêm chuyển xếp lương, thăng hạng mới mà nên có quy định để chuyển từ hạng sang bậc nghề nghiệp của Nghị định 232/2026/NĐ-CP.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.