Chuyên gia hiến kế nâng chất lượng tạp chí khoa học của Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science

18/09/2026 12:27
Thùy Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Ngày 18/9, tại Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia “Nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học của Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science”.

Ngày 18/9, tại Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải (UTT), Đảng ủy các trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội chủ trì, phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học của Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science”.

Hội thảo hướng tới một mục tiêu có ý nghĩa chiến lược: thúc đẩy các tạp chí khoa học Việt Nam phát triển thực chất, chuyên nghiệp, từng bước được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu, tự chủ tri thức và vị thế học thuật của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

Hội thảo quy tụ khoảng 300 đại biểu là đại diện các cơ quan Trung ương, thành phố Hà Nội, các bộ, ngành, cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, cơ quan báo chí - xuất bản, cùng các nhà khoa học, chuyên gia và đội ngũ làm công tác tạp chí khoa học.

3.jpg
Hội thảo quy tụ các đại biểu là đại diện các cơ quan Trung ương, thành phố Hà Nội, các bộ, ngành, cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, cơ quan báo chí - xuất bản, cùng các nhà khoa học, chuyên gia và đội ngũ làm công tác tạp chí khoa học. Ảnh: UTT

Từ Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71: đặt tạp chí khoa học vào trung tâm của hệ sinh thái tri thức

Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính cho phát triển nhanh và bền vững; đồng thời Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 đặt ra yêu cầu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó giáo dục đại học phải gắn chặt hơn với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Trong tinh thần đó, phát triển tạp chí khoa học không còn chỉ là câu chuyện của một tòa soạn hay một ban biên tập. Tạp chí khoa học là một cấu phần của hạ tầng khoa học quốc gia: nơi kiểm chứng, công bố và lan tỏa tri thức; nơi hình thành chuẩn mực học thuật, thúc đẩy liêm chính nghiên cứu, kết nối cộng đồng khoa học trong nước với quốc tế và phản ánh năng lực nghiên cứu của cơ quan chủ quản. Việc nâng cao chất lượng tạp chí theo các chuẩn mực được Scopus và Web of Science thừa nhận vì vậy phải được nhìn nhận như một quá trình chuẩn hóa toàn diện về chất lượng học thuật, quản trị biên tập, phản biện, đạo đức xuất bản, dữ liệu, chuyển đổi số và quốc tế hóa.

Ý nghĩa sâu xa của quá trình này không nằm ở việc “chạy theo chỉ mục”, mà ở việc tạo ra những kênh công bố có uy tín ngay tại Việt Nam, để tri thức Việt Nam được nhìn thấy, được phản biện, được trích dẫn và tham gia sâu hơn vào dòng chảy tri thức toàn cầu; đồng thời tạo điều kiện thu hút các nhà khoa học, phản biện và mạng lưới nghiên cứu quốc tế đến với các nền tảng học thuật do Việt Nam xây dựng và quản trị.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm – Bí thư đảng ủy, Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật cho rằng, việc các tạp chí khoa học Việt Nam được lập chỉ mục trong những cơ sở dữ liệu quốc tế có uy tín là cần thiết và có ý nghĩa. Nhưng nếu chỉ nhìn Scopus hay Web of Science như một “đích đến”, chúng ta rất dễ tập trung vào các yêu cầu kỹ thuật mà chưa đi đến phần cốt lõi của vấn đề.

Đích đến thực chất phải là chất lượng khoa học. Scopus và Web of Science, xét đến cùng, là những hệ thống ghi nhận một quá trình chuẩn hóa lâu dài về chất lượng nội dung, quản trị biên tập, phản biện, đạo đức xuất bản, tính ổn định và ảnh hưởng học thuật. Vì vậy, một tạp chí không thể phát triển bền vững chỉ bằng cách “làm cho đủ tiêu chí”. Những chuẩn mực bên ngoài chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng trở thành năng lực bên trong của chính tạp chí.

Do đó, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm mong rằng các báo cáo, tham luận và trao đổi hôm nay sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề có tính nền tảng.

Một là, cần nhìn đúng thực trạng và nhận diện đúng các điểm nghẽn của tạp chí khoa học Việt Nam. Không chỉ là câu chuyện số lượng tạp chí đã hay chưa được lập chỉ mục quốc tế, mà phải đi sâu vào chất lượng nguồn bài, chất lượng phản biện, năng lực của Hội đồng Biên tập, tính chuyên nghiệp của quy trình xuất bản, ngoại ngữ, công nghệ, đạo đức nghiên cứu, khả năng thu hút tác giả và mức độ hiện diện trong cộng đồng học thuật quốc tế.

Hai là, cần làm rõ con đường nâng chất lượng từ chính nội lực của từng cơ sở. Không có một công thức duy nhất cho tất cả các tạp chí. Tạp chí khoa học tự nhiên, kỹ thuật có những đặc điểm khác với tạp chí khoa học xã hội và nhân văn; một đại học có tiềm lực nghiên cứu mạnh có điều kiện khác với một cơ sở đang từng bước xây dựng năng lực khoa học. Vì vậy, cái cần tìm không phải là một khuôn mẫu cứng, mà là những nguyên tắc cốt lõi và những mô hình có thể tham khảo, vận dụng phù hợp.

Ba là, cần đặc biệt quan tâm là chuyên nghiệp hóa quản trị tạp chí. Chất lượng không thể phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm cá nhân hay sự tận tụy của một vài cán bộ biên tập. Toàn bộ chu trình từ tiếp nhận bản thảo, phản biện, biên tập, kiểm tra đạo đức nghiên cứu, xuất bản, lưu trữ đến phổ biến và đo lường tác động khoa học phải từng bước được chuẩn hóa, số hóa và vận hành minh bạch.

Bốn là, đi cùng với quản trị là liêm chính học thuật. Trong khoa học, uy tín được tích lũy rất chậm nhưng có thể bị tổn hại rất nhanh. Áp lực công bố, áp lực chỉ số và những khả năng mới do trí tuệ nhân tạo tạo sinh mang lại càng đòi hỏi các tạp chí phải có quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm tác giả, trách nhiệm phản biện, xung đột lợi ích, đạo văn, dữ liệu nghiên cứu và việc sử dụng công cụ AI. Chúng ta cần công nghệ để nâng cao năng suất xuất bản, nhưng công nghệ không thể thay thế trách nhiệm học thuật.

"Cũng cần hiểu đúng về quốc tế hóa tạp chí khoa học. Quốc tế hóa không chỉ là tăng số bài viết bằng tiếng Anh, mời thêm một số thành viên nước ngoài vào Hội đồng Biên tập hay tìm kiếm tác giả quốc tế. Chiều sâu của quốc tế hóa nằm ở chất lượng câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, chuẩn mực phản biện và khả năng tham gia vào các cuộc đối thoại khoa học có ý nghĩa.

Và hội nhập quốc tế cũng không đồng nghĩa với việc xa rời các vấn đề của Việt Nam. Ngược lại, một trong những giá trị quan trọng của hệ thống tạp chí khoa học Việt Nam phải là đưa những vấn đề của Việt Nam vào đối thoại khoa học quốc tế; đồng thời đưa tri thức và chuẩn mực tiến bộ của thế giới phục vụ sự phát triển của đất nước", Bí thư đảng ủy, Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật nhấn mạnh.

Việt Nam hiện có khoảng 506 tạp chí khoa học, hoạt động ở nhiều lĩnh vực

Tại hội thảo, Tiến sĩ Trần Đắc Hiến – Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, theo số liệu tổng hợp, hệ thống hiện có khoảng 506 tạp chí khoa học, thuộc 367 cơ quan tạp chí hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Các tạp chí phân bổ tương đối rộng từ khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, y dược đến khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục, nông nghiệp và các lĩnh vực liên ngành.

1.jpg
Tiến sĩ Trần Đắc Hiến – Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại hội thảo. Ảnh: UTT

Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ thông tin, cơ cấu theo cơ quan chủ quản của 506 tạp chí khoa học này gồm:

Bộ, cơ quan Trung ương: 40 tạp chí (7.9%).

Cơ sở giáo dục đại học: 245 tạp chí (48.4%).

Tổ chức nghiên cứu và phát triển (bao gồm Bệnh viện): 113 tạp chí (22.3%).

02 Viện Hàn lâm: 48 tạp chí (9.5%).

Hội nghề nghiệp & tổ chức khác: 60 tạp chí (11.9%).

Như vậy nhóm cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu chiếm 70,75% tổng số tạp chí toàn quốc, phản ánh xuất bản gắn chặt với nghiên cứu và đào tạo.

Xét theo lĩnh vực khoa học, hệ thống tạp chí khoa học Việt Nam có cơ cấu tương đối đa dạng. Với tổng số bài báo công bố trong nước năm 2025: 27.493 bài, tỷ lệ phân bổ theo lĩnh vực xuất bản như sau:

Khoa học xã hội: 246 tạp chí (48,6%) | 41,9% số bài báo (11.510 bài).

Khoa học kỹ thuật – công nghệ: 84 tạp chí (16,6%) | 13,4% số bài báo (3.682 bài).

Khoa học y dược: 76 tạp chí (15,0%) | 33,9% số bài báo (9.327 bài).

Khoa học nhân văn: 41 tạp chí (8,1%) | 5,2% số bài báo (1.438 bài).

Khoa học nông nghiệp: 30 tạp chí (5,9%) | 2,6% số bài báo (726 bài).

Khoa học tự nhiên: 29 tạp chí (5,7%) | 2,9% số bài báo (810 bài).

co-cau.jpg
Cơ cấu bài báo theo lĩnh vực xuất bản. Số liệu từ tham luận của Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ.

Về mức độ chuẩn hóa dữ liệu và định danh bài báo, Cục trưởng Trần Đắc Hiến thông tin, trong số 506 tạp chí khoa học được rà soát, có 267 tạp chí đã áp dụng mã định danh đối tượng số (DOI – Digital Object Identifier), chiếm 52,8%. Tức còn 239 tạp chí chưa áp dụng (chiếm 47,2%). Như vậy, DOI đã được sử dụng tại hơn một nửa số tạp chí nhưng mức độ triển khai còn chưa đồng đều.

Chuyển đổi từ mô hình xuất bản truyền thống sang xuất bản điện tử đang diễn ra trong hệ thống tạp chí khoa học Việt Nam. Tuy nhiên, theo kết quả rà soát, Cục trưởng Hiến cho biết, 231 tạp chí có website đăng tải dữ liệu theo mô hình tạp chí trực tuyến (chiếm 45,7%). Như vậy vẫn còn 54,3% số tạp chí chưa thực hiện hoạt động chuyển đổi số. Đây là một khoảng cách đáng chú ý bởi hạ tầng số không chỉ quyết định khả năng tiếp cận của người đọc mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu thập, trao đổi và tái sử dụng dữ liệu về bài báo. Mức độ chuyển đổi số giữa các tạp chí còn không đồng đều.

Cũng theo khảo sát năm 2025 cho thấy chuẩn trích dẫn và thực hành xuất bản học thuật đạt tỷ lệ sử dụng APA, IEEE và Vancouver là 78%, khoảng 22% sử dụng chuẩn khác hoặc quy định riêng. Như vậy, các chuẩn trích dẫn phổ biến đã được áp dụng khá rộng rãi trong hệ thống tạp chí. Tỷ lệ 22% tạp chí sử dụng các chuẩn khác cho thấy hệ thống chuẩn trích dẫn đang được sử dụng còn tương đối đa dạng, phần nào phản ánh đặc thù chuyên ngành của các tạp chí, trong đó cách thức trích dẫn có thể được xây dựng phù hợp với yêu cầu của từng lĩnh vực. Song sự đa dạng này vẫn cần tuân thủ theo các quy định trong trích dẫn tài liệu tham khảo.

Đánh giá về mức độ hội nhập quốc tế của tạp chí khoa học Việt Nam, Cục trưởng Hiến cho hay: Theo số liệu tổng hợp, Việt Nam hiện có 16 tạp chí được lập chỉ mục trong Scopus và/hoặc Web of Science, còn thấp so với tổng số tạp chí khoa học trong nước.

Trong số này, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có 6 tạp chí (chiếm 37,5%). Khối cơ sở giáo dục đại học có 10 tạp chí (chiếm 62,5%), gồm: 2 tạp chí thuộc các đại học quốc gia, 5 tạp chí thuộc các trường đại học công lập và chuyên ngành, 3 tạp chí thuộc các trường đại học tư thục. Cơ cấu này cho thấy các tạp chí được chỉ mục quốc tế hiện tập trung tại những cơ quan có hoạt động nghiên cứu và xuất bản tương đối phát triển. Xét theo lĩnh vực, có 6 tạp chí thuộc khoa học tự nhiên, công nghệ vật liệu và toán học; 5 tạp chí thuộc tin học, máy tính và viễn thông; 3 tạp chí thuộc kinh tế, quản lý và phát triển bền vững. Các tạp chí còn lại thuộc các lĩnh vực khác.

Từ thực tế này, Cục trưởng Trần Đắc Hiến đặt ra 4 yêu cầu đối với tạp chí khoa học trong giai đoạn tới. Cụ thể:

Thứ nhất, cần chuẩn hóa hoạt động xuất bản thông qua việc duy trì ISSN hợp lệ, xuất bản đúng kỳ; có hệ thống tiếp nhận, trao đổi bài trực tuyến; mở rộng phản biện quốc tế; chuẩn hóa tiêu đề, tóm tắt, từ khóa tiếng Anh; nâng cao chất lượng Hội đồng biên tập và mạng lưới chuyên gia, cộng tác viên.

Thứ hai, cần chuyển từ “công khai” sang “chứng minh thực thi” thể hiện thông qua chuyển từ việc công khai chính sách trên website sang quản trị và chứng minh việc thực thi các cam kết. Lưu vết đầy đủ hồ sơ biên tập, quy trình phản biện, xử lý xung đột lợi ích và khiếu nại học thuật.

Thứ ba, hiện tại hóa hạ tầng số bằng cách chuyển từ tải PDF đơn thuần sang quản lý toàn bộ vòng đời bài báo số. Tích hợp OJS, gắn DOI cho bài báo, ORCID cho tác giả, chuẩn hóa metadata để phục vụ kết nối, chia sẻ với nền tảng VJOL.

Cuối cùng là quản lý liêm chính khoa học và AI tạo sinh thông qua hoàn thiện quy định phòng ngừa gian lận; lưu trữ dữ liệu nghiên cứu. Ban hành quy định về liêm chính khoa học, minh bạch, khai báo sử dụng AI trong các công bố khoa học.

Còn đối với cơ quan chủ quản tạp chí khoa học, Cục trưởng đề xuất rằng:

Tạp chí khoa học là cấu phần hạ tầng khoa học công nghệ cốt lõi, cần nhìn nhận nó không chỉ là kênh công bố kết quả nghiên cứu, mà là công cụ kiểm định chất lượng, bảo vệ liêm chính và nâng cao uy tín học thuật của Việt Nam.

Ưu tiên nguồn lực cho chuyển đổi số & liêm chính xuất bản, đầu tư hạ tầng xuất bản điện tử khép kín (OJS), mã định danh DOI, ORCID và các công cụ soát xét đạo văn, quản lý nghiêm ngặt AI tạo sinh.

Đồng hành cùng Bộ Khoa học và Công nghệ, trực tiếp là Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học để kết nối dữ liệu dùng chung, đưa tạp chí ra quốc tế, từng bước nâng cấp các tạp chí tiềm năng đạt chuẩn Scopus/WoS. Đồng thời thực hiện thành công mục tiêu xây dựng hệ sinh thái xuất bản khoa học Việt Nam minh bạch, tin cậy, chất lượng, gia tăng thực chất tầm ảnh hưởng học thuật quốc tế.

JSTT - dấu ấn cho thấy các trường đại học Việt Nam có thể tự chủ xây dựng tạp chí được quốc tế thừa nhận

Một điểm nhấn của Hội thảo là trường hợp Tạp chí Journal of Science and Transport Technology (JSTT) của Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải. Được thành lập từ năm 2021 và định hướng theo chuẩn quốc tế ngay từ đầu, JSTT được UTT trực tiếp đầu tư, quản trị và phát triển chủ yếu bằng nguồn lực nội tại. Sau hơn ba năm, Tạp chí được Scopus chấp nhận lập chỉ mục; khoảng một năm sau tiếp tục nâng hạng từ Q4 lên Q3 và được Scopus mở rộng theo định hướng tạp chí quốc tế đa ngành.

Tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Hoàng Long – Bí thư đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải khẳng định: Giá trị lớn nhất của trường hợp JSTT không chỉ nằm ở một chỉ mục hay một thứ hạng. Dấu ấn đặc biệt là việc một trường đại học Việt Nam có thể chủ động xây dựng thương hiệu xuất bản khoa học của chính mình, làm chủ quy trình biên tập - phản biện, hạ tầng số, mạng lưới học thuật và định hướng phát triển, nhưng vẫn đạt được sự thừa nhận của một cơ sở dữ liệu quốc tế lớn. Kinh nghiệm này củng cố niềm tin rằng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển tạp chí đạt chuẩn quốc tế nếu có chiến lược rõ ràng, quản trị chuyên nghiệp, đầu tư bền bỉ và cam kết chất lượng từ lãnh đạo đến đội ngũ thực hiện.

Từ một trường hợp cụ thể, thông điệp được mở rộng thành một định hướng có tính hệ thống: nếu từng trường chủ động nâng chuẩn tạp chí của mình và đồng thời liên kết để chia sẻ chuyên gia, phản biện, hạ tầng, dữ liệu, kinh nghiệm quản trị và nguồn lực quốc tế hóa, Việt Nam có thể từng bước hình thành một hệ thống tạp chí khoa học mạnh hơn, có uy tín cao hơn và hiện diện rõ nét hơn trên bản đồ khoa học quốc tế.

2.jpg
PGS.TS Nguyễn Hoàng Long – Bí thư đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải khẳng định: Giá trị lớn nhất của trường hợp JSTT không chỉ nằm ở một chỉ mục hay một thứ hạng. Ảnh: UTT

Từ kinh nghiệm của JSTT, PGS.TS Nguyễn Hoàng Long khuyến nghị rằng, muốn phát triển bền vững, tạp chí phải được chuẩn hóa từ đầu (không thể đợi đến khi chuẩn bị hồ sơ Scopus mới bắt đầu chuẩn hóa); quốc tế hóa thực chất bằng cách tăng sự tham gia của Editorial Board, phản biện, tác giả và hoạt động khoa học quốc tế; lấy chất lượng làm trung tâm bởi lẽ chất lượng quyết định uy tín lâu dài của tạp chí; quản trị tạp chí như một hệ thống xuất bản khoa học chứ không chỉ là nơi nhận bài; và xây dựng hệ sinh thái khoa học (phía sau tạp chí cần có nghiên cứu, phòng thí nghiệm, hội nghị và mạng lưới quốc tế).

Từ nhận thức đến hành động: ký kết hợp tác giữa 20 đơn vị

Các báo cáo và thảo luận tại Hội thảo cùng hội tụ ở một quan điểm rằng, Scopus và Web of Science là những chuẩn tham chiếu quốc tế quan trọng, nhưng đích đến cuối cùng vẫn là chất lượng khoa học thực chất. Một tạp chí chỉ có thể phát triển bền vững khi chất lượng bài báo được bảo đảm, phản biện độc lập và nghiêm túc, đạo đức xuất bản được tôn trọng, quản trị dựa trên dữ liệu, hạ tầng số được làm chủ và mức độ quốc tế hóa được nâng lên bằng những hợp tác học thuật thực chất.

5.jpg
6.jpg
7.jpg
8.jpg
Lãnh đạo nhiều cơ sở giáo dục đại học trình bày tham luận, chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: UTT

Một điểm nhấn mang tính hành động của Hội thảo là Lễ ký kết Biên bản cam kết ghi nhớ giữa 20 đơn vị thành viên về phối hợp nâng cao chất lượng tạp chí khoa học Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science giai đoạn 2026 - 2030. Việc ký kết đặt nền móng cho một cơ chế hợp tác liên trường, đơn vị trong phát triển tạp chí khoa học theo chuẩn quốc tế.

4.jpg
Tại hội thảo diễn ra lễ ký kết Biên bản cam kết ghi nhớ giữa 20 đơn vị thành viên về phối hợp nâng cao chất lượng tạp chí khoa học Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh: UTT

Theo định hướng của Biên bản cam kết, các đơn vị chủ động xây dựng lộ trình, bố trí nguồn lực và nỗ lực để đến năm 2030 có tạp chí khoa học của đơn vị được lập chỉ mục trong Scopus hoặc Web of Science. Các bên đồng thời hình thành mạng lưới hợp tác nhằm chia sẻ kinh nghiệm quản trị, biên tập, phản biện, quốc tế hóa, chuyển đổi số; tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn, tọa đàm chuyên môn; hỗ trợ tự đánh giá theo tiêu chí quốc tế và tăng cường kết nối nguồn lực.

Trong cơ chế phối hợp, Đảng ủy các trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội phát huy vai trò kết nối, định hướng và tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động chung của mạng lưới; Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải là đầu mối phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kết nối các hoạt động chuyên môn. Từ đó, cam kết của 20 đơn vị được kỳ vọng chuyển hóa thành kế hoạch cụ thể, có đầu mối, có tiến độ, có sản phẩm và có cơ chế theo dõi, để mục tiêu hội nhập quốc tế của các tạp chí khoa học trở thành một quá trình phát triển bền vững thay vì một phong trào ngắn hạn.

Thùy Linh